|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 tháng 8 năm 2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lưu Văn Hoàng;
- Bà Thái Trân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Ánh P, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ A, Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang;
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ E, Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
Chị P có mặt tại phiên tòa; Anh P1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Đinh Ánh P trình bày: Chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 2012, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, đời sống gia đình thu nhập bằng nghề làm thuê. Quá trình chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P1 thường xuyên rượu chè và có hành vi bạo lực gia đình trong những lần say rượu, chị P và anh P1 đã không còn chung sống với nhau từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh P1 không có trách nhiệm với gia đình, nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh P1.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 79/TB-TLVA ngày 20/02/2023 cho anh Nguyễn Thanh P1 thông qua người thân là ông Nguyễn Văn C (cha nuôi của anh P1) nhận thay và ông C xác nhận có thông tin cho anh P1 biết về việc chị Đinh Ánh P khởi kiện ly hôn với anh P1 tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang nhưng đến nay Tòa án không nhận được văn bản ý kiến của anh P1 đối với yêu cầu của chị P và các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) của anh P1 gửi cho Tòa án.
Tòa án đã ra thông báo mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P1 vắng mặt theo các lần triệu tập của Tòa án nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được.
Ngày 18/5/2023, Tòa án ban hành Thông báo số 47/TB-TA về việc công khai tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập cho anh Nguyễn Thanh P1 được biết thông qua việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai có xác nhận của đại diện Ấp 3 và đại diện xã V nhưng anh P1 không gửi văn bản ghi ý kiến của anh P1 cho Tòa án.
Tại phiên tòa, anh P1 vắng mặt, chị P cương quyết yêu cầu ly hôn với anh P1.
Hội đồng xét xử công bố biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1; Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của anh Nguyễn Thanh P1; Biên bản không lấy được lời khai của anh Nguyễn Thanh P1; Biên bản xác minh ông Nguyễn Văn C; Biên bản ghi nhận lời khai của chị Đinh Ánh P; Công văn số 406/UBND-HT của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Cụ thể:
Ngày 11/4/2023, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành lập biên bản ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014. Cháu Nguyễn Đinh Ánh T và cháu Nguyễn Định Thị Ánh T2 có trình bày ý kiến nguyện vọng sống với mẹ là chị Đinh Ánh P khi chị P và anh P1 ly hôn.
Ngày 24/4/2023, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành xác minh tình trạng cư trú của anh Nguyễn Thanh P1 tại Công an xã V được biết anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1981 có nơi cư trú: Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
Ngày 26/4/2023 Tòa án tiến hành lập biên bản không lấy được lời khai của anh Nguyễn Thanh P1 có sự chứng kiến của đại diện Ban ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang tại thời điểm Tòa án tiến hành lấy lời khai đương sự không có mặt tại địa phương.
Ngày 26/4/2023 Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành xác minh ông Nguyễn Văn C (cha nuôi anh P1) được biết: Anh Nguyễn Thanh P1 có vợ là Đinh Ánh P, nhưng mâu thuẩn giữa vợ chồng P – P1 như thế nào thì ông C cũng không biết. Giữa P1 và P có 02 (hai) con chung hiện đang sống với chị Đinh Ánh P.
Ngày 27/4/2023 Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành ghi nhận lời khai của chị Đinh Ánh P: Chị P cho biết do lỗi đánh máy nên ghi nhầm tên anh Nguyễn Thanh P1 thành Nguyễn Văn P2. Nay chị P xác định chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ E, Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
Theo Công văn số 406/UBND-HT ngày 28/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã V cho biết: Qua xác minh, kiểm tra thông tin dữ liệu hộ tịch và tàng thư Hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã V thì không tìm thấy ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1981 và bà Đinh Ánh P3, sinh năm 1981 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V.
Tòa án không tiến hành hòa giải về tình cảm do chị P và anh P2 không đăng ký kết hôn, tiến hành hòa giải về con chung nhưng do anh P2 vắng mặt nên không hòa giải được, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến với Tòa án;
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh P1 vắng mặt, chị Đinh Anh P4 vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Hội đồng xét xử công bố kết quả xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã V về việc chị P4 và anh P1 không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 97, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 203 BLTTDS năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Bị đơn anh Nguyễn Thanh P1 vắng mặt, nguyên đơn chị Đinh Ánh P thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ giữa chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu đi đến sống chung từ năm 2012, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P1 thường xuyên rượu chè và có hành vi bạo lực gia đình trong những lần say rượu, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay.
Xét thấy, hôn nhân giữa chị P và anh P1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không đăng ký theo quy định nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó, có cơ sở không công nhận chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị P khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nếu sau này giữa chị P và anh P1 có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nếu sau này giữa chị P và anh P1 có phát sinh tranh chấp về nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1.
- Về nuôi con chung: Chị Đinh Ánh P được nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014 cho đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động được. Anh Nguyễn Thanh P1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Đinh Ánh P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền: Chị Đinh Ánh P khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh P1. Anh P1 có nơi cư trú: Tổ E, Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Thanh P1 được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
- [1] Về quan hệ hôn nhân:
- [2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh P1 và chị P có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014. Hiện các con chung đang sống với chị P. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- [3] Về tài sản chung: Chị P khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nếu sau này giữa chị P và anh P1 có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.
- [4] Về nợ chung: Chị P khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nếu sau này giữa chị P và anh P1 có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.
- [5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà đã nộp. Anh P1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- [6] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án.
Vào năm 2012, chị P và anh P1 tự nguyện chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, chị P và anh P1 chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P1 thường xuyên rượu chè và có hành vi bạo lực gia đình trong những lần say rượu và không chung sống nhau từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Tình cảm giữa chị P và anh P1 không còn nên chị P yêu cầu ly hôn với anh P1.
Theo kết quả xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang: Từ năm 2012 đến nay chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 chưa có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.
Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.
Chị P và anh P1 chung sống với nhau có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Xét, không công nhận chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Biên bản ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014. Cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T và cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T1 có trình bày ý kiến nguyện vọng sống với mẹ là chị Đinh Ánh P khi chị P và anh P1 ly hôn.
Biên bản xác minh ông Nguyễn Văn C – cha nuôi của anh Nguyễn Thanh P1 trình bày: Vợ chồng P - P1 có 02 con. Hiện nay các cháu đang sống chung với mẹ là P.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi và mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét, chấp nhận để chị P nuôi dưỡng các con chung là các cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1 là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đinh Ánh P và anh Nguyễn Thanh P1 là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Chị Đinh Ánh P được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 19/01/2013 và Nguyễn Đinh Thị Ánh T1, sinh ngày 07/3/2014 đến khi con thành niên và có khả năng lao động được. Anh Nguyễn Thanh P1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Đinh Ánh P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Thanh P1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Ánh P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007336 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Chị Đinh Ánh P đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Thanh P1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị P có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của anh P1 là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Dẫm |
Bản án số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 67/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa P với P1
