TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14-8-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lý Thị Mỹ Diệu;
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Chị Đ, anh N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh N sống chung với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn phụ giúp gia đình và hay ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng gây gỗ, cải nhau. Hiện chị và anh N đã ly thân từ tháng 05-2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh N còn nhiều lần say sỉn đến nhà mẹ ruột của chị quậy phá, chọi đá vào nhà để yêu cầu chị ra gặp mặt nói chuyện, chửi bới chị và gia đình chị. Nay chị yêu câu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 22-10-2019, đang sống với anh N. Chị đồng ý để anh N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim N1 và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn N mời tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N không đến và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại các biên bản lấy lời khai ngày 04-7-2023 và ngày 18-7-2023, anh Nguyễn Văn N có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau:
Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Đ về thời gian sống chung, nơi đăng ký kết hôn, thời gian ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay anh đồng ý ly hôn với chị Đ.
Về con chung: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Đ về họ tên, ngày tháng năm sinh của con chung là đúng. Hiện tại cháu Nguyễn Thị Kim N1 đang sống chung với anh. Nay anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N1, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N.
Về nuôi con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 22-10-2019 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận anh Nguyễn Văn N không yêu cầu chị Nguyễn Thị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án, vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Đ, anh N.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn ngày 29-6-2010 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Đ cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh N cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn phụ giúp gia đình và hay ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng gây gỗ, cải nhau. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 03 năm 2023 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh N cũng thừa nhận trong quá trình sống chung, vợ chồng không hòa thuận, bất đồng quan điểm sống với nhau và thường xảy ra mâu thuẫn là đúng. Như vậy, giữa chị Đ và anh N đã có phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 03 năm 2023 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đ xin ly hôn với anh N và anh N cũng đồng ý ly hôn với chị Đ. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 22-10-2019, hiện đang sống với anh N. Quá trình giải quyết vụ án, chị Đ và anh N thống nhất giao cháu N1 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh N không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sự thỏa thuận giữa chị Đ và anh N là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Trước khi Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án, chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N tự nguyện thuận tình ly hôn. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N, mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 75.000 đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Đ tự nguyện chịu thay anh Nguyễn Văn N 75.000 đồng, tổng cộng số tiền án phí chị Đ tự nguyện chịu là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 22-10-2019 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận anh Nguyễn Văn N không yêu cầu chị Nguyễn Thị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008122 ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Nguyễn Thị Đ được hoàn trả lại số tiền chênh lệch 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn N vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 67/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn D -N
