Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 13/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Kiều Xuân Mai

2. Ông Trần Văn Khánh

Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 13/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày 28/10/1994 tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi thường trú: Khu D, thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng H, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021; Về nhân thân: theo D chỉ bản số 160 lập ngày 22/3/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  3. Họ và tên: Phạm Văn B, sinh ngày 25/3/1983 tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi thường trú: Khu B, thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông: Phạm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị B1; Có vợ là Trịnh Thị N1, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; Về nhân thân: theo D chỉ bản số 159 lập ngày 20/3/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  5. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh ngày 08/4/1985 tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi thường trú: Khu D, thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Trịnh Thị T2; Có vợ là Bùi Thị T3, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; Về nhân thân: theo D chỉ bản số 162 lập ngày 22/3/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  6. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  7. Họ và tên: Nguyễn Bá N2, sinh ngày 18/7/1990 tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi thường trú: Khu D, thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn Q và bà Đỗ Thị Kim M; Có vợ là Phùng Thị L1, có 01 con sinh năm 2016; Về nhân thân: theo D chỉ bản số 162 lập ngày 22/3/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  8. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, Công an xã L, huyện M, thành phố Hà Nội đã phối hợp cùng Trưởng thôn Xa Mạc kiểm tra hành chính tại nhà anh Phạm Văn T4, sinh năm: 1997 ở thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội phát hiện và bắt quả tang 04 đối tượng đang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “xóc đĩa” ăn tiền gồm: Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Bá N2, Nguyễn Văn H1. Công an xã L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong vật chứng đưa các đối tượng về trụ sở để tiếp tục làm rõ.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) bát sứ hình tròn màu trắng, đường kính miệng bát 11,5cm; 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 15,5cm; 04 (bốn) quân vị hình tròn cắt từ vỏ bao thuốc lá T5, một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng, đường kính mỗi quân vị 02cm; 01 (một) thảm nỉ bằng vải kích thước (2,2x1,6)m; 01 (một) chiếc kéo có chuôi màu đen, bằng sắt, dài khoảng 18cm; số tiền: 7.240.000 đồng (Bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Bá N2, Nguyễn Văn H1 đều khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 12/3/2024, Phạm Văn T đi đến nhà anh Phạm Văn T4 để quét dọn nhà cho em trai (do T4 đi làm ăn xa không có nhà nên nhờ T trông nom nhà cửa). Khi T đang quét dọn nhà thì lần lượt có các đối tượng: Nguyễn Bá N2, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1 đến ngồi chơi uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, T rủ mọi người chơi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi “xóc đĩa”. Sau đó, T lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 01 chiếc kéo và 01 bao thuốc lá Thăng Long để ở bàn uống nước dưới tầng 1 và cùng N2, BH1 đi lên phòng thờ trên tầng 2 để chơi đánh bạc ăn tiền. Khi lên đến tầng 2, T đi sang phòng ngủ bên cạnh phòng thờ lấy 01 thảm bằng nỉ mang sang trải dưới nền phòng thờ để tất cả ngồi chơi đánh bạc. T dùng kéo cắt 04 quân vị (một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng) bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long để chơi đánh bạc ăn tiền. Các đối tượng quy định luật chơi: Một người cầm cái bỏ 04 quân vị vào đĩa sau đó úp bát lên và xóc, trước khi mở bát những người còn lại đặt tiền bên chẵn (bên tay phải người cầm cái) hoặc bên lẻ (bên tay trái người cầm cái), sau khi đặt xong người cầm cái mở bát nếu về chẵn (04 quân vị cùng một màu hoặc 04 quân vị, 02 quân vị cùng một màu và 02 quân vị còn lại cùng màu) thì người cầm cái thu tiền của những người đặt cửa lẻ và trả tiền cho những người đặt cửa chẵn, nếu mở bát mà về lẻ (trong 04 quân vị có 03 quân vị cùng một màu) thì người cầm cái thu tiền của những người đặt cửa chẵn và trả tiền cho người đặt cửa lẻ. Người chơi đặt bao nhiêu thì được trả hoặc bị thu tiền bằng số tiền đã đặt. Mức đặt thấp nhất mỗi lần là 20.000 đồng và cao nhất là 100.000 đồng. Khi bắt đầu chơi B là người cầm cái. Khoảng 50 phút sau thì H1 là người cầm cái, sau khi H1 cầm cái được khoảng 05 phút thì có anh Cao Bá H2 (sinh năm: 1993 ở thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội) đến ngồi xem các đối tượng đánh bạc ăn tiền. Khi tham gia đánh bạc, T có 1.200.000 đồng, B có 3.500.000 đồng, N2 có 1.000.000 đồng, Hội có 1.500.000 đồng. Chơi đến 14 giờ 30 phút ngày 12/3/2024 thì bị Công an xã L kiểm tra hành chính bắt giữ.

Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện M, các bị can Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Bá N2, Nguyễn Văn H1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với anh Cao Bá H2 là người đi đến nhà T4 chơi, có mặt ngồi xem các đối tượng đánh bạc, nhưng không tham gia đánh bạc nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với anh Phạm Văn T4 là chủ nhà, quá trình điều tra xác định: khi các đối tượng đến ngồi chơi rồi cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền tại nhà thì anh T4 không có mặt ở nhà, không biết các đối tượng có hành vi đánh bạc, nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 64/CT-VKSÐA ngày 16/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã quyết định truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Bá N2, Nguyễn Văn H1 về tội: Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Khi được nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  • + Bị cáo Phạm Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • + Bị cáo Phạm Văn B từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • + Bị cáo Nguyễn Bá N2 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: vật chứng vụ án. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 7.240.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của Công an M, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  2. [2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, tại nhà anh Phạm Văn T4, sinh năm: 1997 ở thôn X, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội (hiện đang do bị cáo Phạm Văn T trông coi hộ) các Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 đang đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” ăn tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 7.240.000 đồng. Quá trình điều tra không chứng minh được còn có đồng phạm nào khác.

Như vậy hành vi của các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 đã phạm tội “Đánh bạc”, được quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. [3] Hành vi đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội mà hiện nay đang được dư luận rất quan tâm vì nó làm ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, tạo ra sự bất hòa trong nhân dân, ngay cả hạnh phúc gia đình của mọi người, đồng thời nó cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo nhận thức được điều này, song do hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhằm hạn chế các loại tội phạm.
  2. [4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo không có tiền án, tiền sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

  1. [5] Về hình phạt: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội động xét xử thấy: Trong vụ án này, các bị cáo tham gia đánh bạc nhưng không có sự bàn bạc, phân công từ trước, hành vi đánh bạc của các bị cáo chỉ là bột phát, do vậy chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người khởi xướng đánh bạc nên có vai trò cao hơn và chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo B, bị cáo H1 là người cầm cái nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N2 và thấp hơn bị cáo T. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mà cho các bị cáo được hưởng án treo giao về địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo. Áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo T, Bị cáo B, bị cáo H1 như Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo N2 thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  1. [6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:
  • - 01 bát sứ hình tròn màu trắng; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 04 quân vị hình tròn; 01 thảm nỉ bằng vải; 01 chiếc kéo có chuôi màu đen là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Số tiền 7.240.000 đồng là vật chứng của vụ án nên cần tịch sung vào ngân sách Nhà nước.
  1. [7] Về án phí, quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  • - Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 phạm tội: Đánh bạc.
  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt:

  1. 1.1. Bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  2. 1.2. Bị cáo Phạm Văn B 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. 1.3. Bị cáo Nguyễn Văn H1 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. 1.4. Bị cáo Nguyễn Bá N2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 7.240.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bát sứ hình tròn màu trắng; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 04 quân vị hình tròn; 01 thảm nỉ bằng vải; 01 chiếc kéo có chuôi màu đen.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận, tài liệu, vật chứng số 65/THADS-CA ngày 09/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội).

Các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá N2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội; VKSNDTPHN;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Công an huyện Mê Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Mê Linh;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Liên Mạc;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thịnh Quang Trung

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T cùng 03 đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger