Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 12 - 9 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sâm.

Ông Nguyễn Việt Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thật - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 15 tháng 9 năm 1997 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.

Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1969. Hiện Làm ruộng tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1970. Hiện Làm ruộng tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Anh chị em ruột: Gia đình có 05 anh em. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2024 do bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương. Hiện nay đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C.(Có mặt).

Người bị hại: Anh Đinh Văn H1, sinh năm 2001.

Nơi cư trú: Khu X, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.(Vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Tân B, sinh năm 1968.
  2. Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

  3. Anh Nguyễn văn N, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 23/01/2024, Nguyễn Văn H; sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ đến chơi anh Đinh Văn H1; sinh năm: 2001; Nơi cư trú: Khu X, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (là người làm thuê tại gara ô tô Hữu Nghị) và ngủ tại gara ô tô của anh Dư Hữu N1; sinh năm: 1991 ở cùng khu. H ngủ trên gác xép cùng với anh Đinh Văn H1. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 24/01/2024, trong khi tìm nước uống tại gác xép, nơi Đinh Văn H1 để đồ của mình. H phát hiện có một hộp gỗ có kích thước: 30x50x50cm không khóa, H mở ra xem nhìn thấy bên trong có 01 ví giả da màu đen. Do quan sát không thấy có ai nên H đã mở ví ra phát hiện bên trong có hai tập tiền, gồm: Tập thứ nhất gồm các tờ tiền mệnh giá khác nhau, tập tiền thứ hai gồm các tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và mệnh giá 100.000 đồng. H đếm tập tiền thứ hai có số tiền là 12.400.000 đồng. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên H lấy số tiền này đúc vào túi quần bên phải của mình rồi tiếp tục đi ngủ. Đến khoảng 19 giờ 00' cùng ngày, H đi bộ từ gara ô tô của anh N1 sang nhà ông Nguyễn Tân B; sinh năm: 1968; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, nhờ ông B chuyển vào số tài khoản 0876335556 ngân hàng MB của H 2.200.000 đồng. H trả 2.200.000 đồng tiền mặt cho ông B. Sau đó H sử dụng để nạp vào trò chơi trên trang web B52.CLUB. Tiếp đến, khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, H nhờ anh Đinh Văn H1 (là bị hại) chở đến nhà của anh Nguyễn Văn N2; sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để nhờ anh N2 chuyển tiền từ tiền mặt vào trong tài khoản. Do tài khoản ngân hàng của H đã vượt quá hạn mức thanh toán nên H đã mượn số tài khoản 083833688888 ngân hàng M của H1. Sau đó, H đã nhờ anh N2 chuyển tiền vào tài khoản của H1 hai lần cụ thể: Lần thứ nhất, H nhờ anh N2 chuyển vào số tài khoản của H1 số tiền 5.030.000 đồng. H trả 5.030.000 đồng tiền mặt và phí chuyển 20.000 đồng. Sau đó H sử dụng điện thoại của H1 có ứng dụng ngân hàng M để nạp tiền vào tài khoản trò chơi của H trên trang web B52.CLUB. Lần thứ hai, H nhờ anh N2 chuyển vào số tài khoản trên 4.680.000 đồng. H trả 4.680.000 đồng tiền mặt và phí chuyển 20.000 đồng, khi chuyển tiền xong H tiếp tục sử dụng điện thoại của H1 có ứng dụng ngân hàng M để nạp tiền vào tài khoản trò chơi của H trên trang web B52.CLUB. Tổng hai lần H nhờ anh N2 chuyển số tiền là 9.750.000 đồng. Khi Hoàng mượn số tài khoản của anh H1, H không nói rõ nguồn gốc số tiền trên. Sau khi nạp tiền vào tài khoản trò chơi, H sử dụng điện thoại của bản thân để chơi hết số tiền trên.

Chiều ngày 24/01/2024 H có đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1968 ở Xóm L, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để mua hàng với tổng số tiền mua là 120.000 đồng.

Số tiền còn lại là 320.000 đồng, H chi tiêu cá nhân hết. Không nhớ rõ chi tiêu gì.

Sau khi kiểm tra Đinh Văn H1 phát hiện bị mất số tiền 12.400.000 đồng. nên anh H1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C để trình báo về nội dung sự việc xảy ra. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã mời H đến làm việc, H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 01/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C có Công văn gửi đến Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ T; Trung tâm I đề nghị phối hợp cung cấp thông tin về Ứng dụng Trang web B52.CLUB (Đường link truy cập https://b52.club) có được cấp phép tại Việt Nam không? Hồ sơ pháp lý và nội dung hoạt động của ứng dụng? Ứng dụng có phải là một hình thức đánh bạc trên không gian mạng không?

- Ngày 01/8/2024, Cục P truyền hình và thông tin điện tử - Bộ T có văn bản trả lời: Cục P truyền hình và thông tin điện tử không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào cho các phần mềm, ứng dụng liên quan đến website B52.CLUB (Đường link truy cập https://b52.club), không có các thông tin liên quan đến tên miền trên. Trung tâm I (V) có văn bản trả lời: Trang web B52.CLUB (Đường link truy cập https://b52.club) đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài, các thông tin liên quan do tổ chức cung cấp dịch vụ lưu trữ và quản lý. Các vùng địa chỉ trên không thuộc quản lý của Việt Nam.

Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C. không có căn cứ để tiến hành điều tra làm rõ hành vi có phải là đánh bạc trên không gian mạng qua trang web B52.CLUB của Nguyễn Văn H hay không. Đồng thời ứng dụng B52.CLUB đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài không thuộc quản lý của Việt Nam nên không thể tiến hành thu hồi số tiền mà H đã chuyển vào ứng dụng B52.CLUB.

Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 54/CT-VKSCK-HS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
  • *Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 77 ngày tạm giam từ ngày 28/6/2024 đến ngày 12/9/2024 qui đổi bằng 07 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành từ 01(Một) tháng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ đến 04 (Bốn) tháng 09 (Chín ngày) cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà.

*Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận ngày 10/5/2024 Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho anh Đinh Văn H1 số tiền 12.400.000 đồng. Là số tiền H đã trộm cắp của anh H1. Anh H1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu H phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.

[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Tại tại gara ô tô của anh Dư Hữu N1, sinh năm 1991, ở Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1997 ở cùng khu. Đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Đinh Văn H1, sinh năm: 2001; Nơi cư trú: Khu X, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ số tiền 12.400.000 đồng, do H1 để trong 01 ví giả da màu đen được để trong 01 chiếc hộp bằng gỗ.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, do đó, cáo trạng số 54/CT - VKSCK ngày 19/8/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị can tự nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 03 (ba) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội. Cần trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”.

Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy: Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.

[6]. Đối với ông Nguyễn Tân B và anh Nguyễn Văn N2. H đã nhờ chuyển tiền và tài khoản để nạp vào tài khoản trò chơi trên mạng nhưng H không nói cho ông B và anh N2 biết đây là tiền do H trộm cắp mà có và H cũng không nói mục đích chuyển tiền vào tài khoản để tham gia trò trơi trên mạng nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C không đề cập xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 10/5/2024 Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho anh Đinh Văn H1 số tiền 12.400.000 đồng. Là số tiền H đã trộm cắp của anh H1. Anh H1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu H phải bồi thường khoản tiền nào khác. Nên cần được xác nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
  • *Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 77 ngày tạm giam từ ngày 28/6/2024 đến ngày 12/9/2024 qui đổi bằng 07 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 04 (Bốn) tháng 09 (Chín ngày) cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà.

*Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 10/5/2024 Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho anh Đinh Văn H1 số tiền 12.400.000 đồng. Là số tiền H đã trộm cắp của anh H1. Anh H1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu H phải bồi thường khoản tiền nào khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;
  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • -UBND xã nơi B/c cư trú;
  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;
  • -THADS huyện Cẩm khê;
  • - THA Hình sự;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger