Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 12/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Linh và ông Trần Thế Dũng

    Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy P - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11, 12 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024, đối với các bị cáo:

1. TRẦN VIẾT PHONG, sinh ngày 01/6/1978 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Thẻ CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Hùng H (đã chết) và bà Vũ Thị C, sinh năm 1945; vợ: Đỗ Thị G, sinh năm 1986; Bị cáo có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;

+/ Nhân thân của bị cáo :

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47 ngày 11/4/2008 của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T, xử phạt Trần Viết P1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức: phạt tiền 250.000đ;
  • - Bản án số: 08/2011/HSST ngày 20/01/2011 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý;
  • - Ngày 14/6/2017, Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính để đưa Trần Viết P1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.
  • - Bản án số 52/2020/HSST ngày 23/6/2020 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 22/6/2021 bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. VŨ THÁI PHI, sinh ngày 02/01/1970. Tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Thẻ CCCD số: [...]; Cấp ngày 04/4/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Xuân H1 (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1944; Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1976; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không;

+/ Nhân thân của bị cáo:

  • - Bản án số: 40/HSST ngày 27/10/1995 của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Vũ Thái P2 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
  • - Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, Trần Viết P1, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T đi xe khách từ nhà đến khu vực bến xe khách huyện S, tỉnh Tuyên Quang (thuộc xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Tại đây, P1 gặp một người đàn ông tên T1 (không xác định được tên đệm, tuổi, địa chỉ) mua được 01 gói ma túy gói bên ngoài bằng túi nilon màu đen, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P1 đi xe khách về đến nhà đổ số ma túy vừa mua được vào 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip, trên mép có viền màu đỏ. Sau đó P1 chia một phần ma túy trên thành 05 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có in hình, chữ, số nhiều màu, để sử dụng và bán kiếm lời, số ma túy còn lại P1 vẫn để trong túi nilon. Sau đó P1 sử dụng 01 gói ma túy cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại P1 cất giấu ở khay nhựa gần đầu giường trong phòng ngủ.

Sáng ngày 05/01/2024, P1 tiếp tục sử dụng 01 gói ma túy bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, P1 đang ở nhà thì Vũ Thái P2, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang sử dụng số điện thoại 0362.342.xxx gọi đến số điện thoại 0357.601.xxx của P1 hỏi địa chỉ để mua ma tuý thì P1 nói mình có ma tuý bán. P2 hỏi P1 giá tiền bán ma túy thì P1 nói là 200.000 đồng/ gói. P2 hỏi mua 03 gói ma túy (Heroine) của P1 với số tiền 520.000đ thì P1 đồng ý và hẹn P2 đến nhà P1 lấy ma túy. Sau đó, P2 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS 22B2 - 477.23 mang tên Vũ Thái Đ (là xe của con trai bị cáo P2) đến cổng nhà P1 thì P2 đưa cho P1 số tiền 520.000 đồng, nhận tiền xong P1 đưa cho P2 03 gói ma túy gói ngoài bằng giấy màu trắng, có in hình, chữ, số nhiều màu. Khi P1 và P2 vừa thực hiện xong hành vi mua bán ma túy thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện, kiểm tra, P2 tự nguyện giao nộp 03 gói Heroine vừa mua của P1. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P1 và P2 vào hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày.

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tổ công tác đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Viết P1, tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T. Quá trình khám xét, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, dạng túi zip, trên mép có viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Trần Viết P1 và Vũ Thái P2, có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số: 125/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Vũ Thái P2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,276 gam;

Kết luận giám định số: 126/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Trần Viết P1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,113 gam.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo cùng nhất trí với nội dung Kết luận giám định đối với ma tuý là H2 của Phòng K Công an tỉnh T.

Cáo trạng số: 59/CT-VKSTP ngày 03 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố: Bị cáo Trần Viết P1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vũ Thái P2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Viết P1, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Vũ Thái P2, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Viết P1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024; Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thái P2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã tạm giữ của bị cáo Vũ Thái P2 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVEALP, màu đỏ, đen, bạc, BKS số 22B2 - 477.23 mang tên Vũ Thái Đ, là tài sản hợp pháp của con trai bị cáo P2, khi bị cáo mang xe đi mua ma tuý, anh Đ không biết. Ngày 05/02/2024, qua xác minh làm rõ nguồn gốc của tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Thái Đ, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, nên không đề nghị HĐXX giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự xử lý vật chứng như sau:

  • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng do bị cáo dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp 02 sim và 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N của bị cáo Trần Viết P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, bên trong lắp 01 sim của bị cáo Vũ Thái P2, không kiểm tra tình trạng bên trong.
  • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng do các bị cáo dùng vào việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép: 03 gói bằng giấy trắng có in hình chữ, số nhiều màu, bên trong đều chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,276 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,226 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước bị ghi “Tang vật vụ Vũ Thái P2 giám định ngày 05/01/2024; 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,113 gam, sau khi thu mẫu giám định còn 0,063 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Trần Viết P1 giám định ngày 05/01/2024.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Ý kiến của bị cáo Trần Viết P1: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo là người nghiện nên bị cáo đã lợi dụng việc mua bán ma tuý cho bị cáo Vũ Thái P2 để có tiền mua ma tuý dùng cho chính bản thân của bị cáo. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ tuyệt đối rèn luyện bản thân để cai nghiện ma túy và chấp hành nội quy của trại giam trong thời gian thi hành án.
  • - Ý kiến của bị cáo Vũ Thái P2: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo là người nghiện nên bị cáo đã mua ma tuý của bị cáo Trần Viết P1 về tàng trữ để sử dụng cho chính bản thân. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Viết P1, Vũ Thái P2 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Đồng thời hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định số: 125/KL-KTHS ngày 09/01/2024; Kết luận giám định số: 126/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Trần Viết P1 đã có hành vi bán 0,276 gam Heroine cho Vũ Thái P2, qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Trần Viết P1 cơ quan điều tra đã phát hiện thu giữ của bị cáo P1 0,113 gam ma tuý Heroine mục đích của bị cáo P1 để bán kiếm lời còn bị cáo Vũ Thái P2 đã mua 0,276 gam Heroine của bị cáo P1 với mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

[3]. Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ......

c, 112. C1. Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ;

[4]. Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

[5]. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Viết P1 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Vũ Thái P2 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ vào số lượng ma tuý mà bị cáo P1 đã bán 0,276 gam Heroine cho Vũ Thái P2 và tàng trữ 0,113 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời; số lượng ma túy bị cáo P2 đã mua của bị cáo P1 là 0,276g loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Trần Viết P1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vũ Thái P2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6]. Xét các yếu tố cấu thành của tội phạm: Các Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo P1, P2 là người nghiện ma túy, riêng bị cáo P1 đã bị xét xử nhiều lần về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nên phải nhận thức rõ trong tình hình hiện nay ma túy đang là nguyên nhân chính làm gia tăng các loại tội phạm nguy hiểm, bạo lực trong gia đình và xã hội, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá của con người, gây sói mòn đạo lý, tàn phá cuộc sống yên vui của những gia đình có người bị nghiện, gây thiệt hại về kinh tế xã hội, nghiêm trọng hơn, ma túy còn là tác nhân chính sinh ra căn bệnh HIV - AIDS đang ngày càng phát triển mạnh, do đó hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì lợi ích vật chất, muốn có ma túy để sử dụng cho cá nhân, bị cáo P1 đã cố ý coi thường pháp luật để mua ma tuý về bán cho bị cáo P2 tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên để kiếm lời lấy ma tuý sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm trong tình hình hiện nay.

[7]. Xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội, Hội đồng xét xử - xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, đã được nhà nước áp dụng biện pháp hỗ trợ về chế độ cai nghiện tại cơ sở y tế đồng thời bị cáo P1 đã bị Toà án Thành phố T xét xử nhiều lần về tội phạm ma tuý để giáo dục bị cáo thấy được tính nguy hiểm của ma tuý đối với bản thân và gia đình bị cáo nhưng sau khi chấp hành hình phạt tù trở về hoà nhập với gia đình và xã hội bị cáo không tự quyết tâm cai nghiện mà tiếp tục tái nghiện, do không có công việc làm ổn định nên bị cáo P1 đã tìm mua ma tuý để bán cho bị cáo P2 lấy tiền lãi mua ma tuý sử dụng cho bản thân như đã nêu trên.

[8]. Xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của mỗi bị cáo để phân loại tội phạm và áp dụng hình phạt như sau: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp cùng tiếp nhận được ý chí chủ quan của nhau nhưng động cơ mục đích khác nhau nên hành vi phạm tội của mỗi bị cáo có cấu thành tội phạm độc lập. Đối với bị cáo Trần Viết P1 vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo đã trực tiếp đi tìm mua ma tuý của một người tên là T1 nhưng không biết địa chỉ mang về phân thành nhiều gói nhỏ bán cho bị cáo Vũ Thái P2 tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét - xử phạt bị cáo Trần Viết P1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; bị cáo Vũ Thái P2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là có căn cứ đúng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử, thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng các bị cáo đều có nhân thân xấu. Đối với bị cáo P1 trong khoảng thời gian từ tháng 4/2008 đến ngày 23/6/2020 bị cáo đã bị cơ quan Điều tra xử phạt hành chính 01 lần và Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang 01 lần xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; 01 lần xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; 01 lần áp dụng biện pháp xử lý hành chính để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đối với bị Vũ Thái P2, ngày 27/10/1995 đã bị Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử về tội Trộm cắp tài sản, xử phạt 15 tháng tù. Các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của Toà án được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học tự cải tạo thay đổi bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích thoả mãn cơn nghiện cho bản thân. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà các bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải và hứa sẽ quyết tâm cai nghiện trong thời gian thi hành án. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[10]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do các bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[11]. Theo lời khai của bị cáo P1 trong vụ án còn thể hiện đối tượng tên T1 đã bán ma túy cho bị cáo Trần Viết P1 vào ngày 04/01/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được họ đệm, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ trong vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[12]. Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVEALP, màu đỏ, đen, bạc, BKS số 22B2 - 477.23 mang tên Vũ Thái Đ, là tài sản hợp pháp của con trai bị cáo P2, khi bị cáo mang xe đi mua ma tuý, anh Đ không biết. Ngày 05/02/2024, qua xác minh làm rõ nguồn gốc của tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Thái Đ, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Việc xử lý tài sản của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13]. Đối với những vật chứng gồm: 03 gói bằng giấy trắng có in hình chữ, số nhiều màu, bên trong đều chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,276 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,226 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Vũ Thái P2 giám định ngày 05/01/2024; 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,113 gam, sau khi thu mâu giám định còn 0,063 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Trần Viết P1 giám định ngày 05/01/2024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp 02 sim và 520.000 đồng tiền Ngân hàng N của bị cáo Trần Viết P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, bên trong lắp 01 sim của bị cáo Vũ Thái P2.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Trần Viết P1, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý ; Bị cáo Vũ Thái P2, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý

2. Hình phạt:

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Viết P1 02 (Hai) năm 04 ( Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.
  • - Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thái P2 01 ( Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.

3. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng do bị cáo dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp 02 sim và 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N của bị cáo Trần Viết P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, bên trong lắp 01 sim của bị cáo Vũ Thái P2, không kiểm tra tình trạng bên trong.
  • Số Tiền 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T đã tạm gửi tại số tài khoản 39490106484800000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang mở tại K Nhà nước Tuyên Quang. Theo Giấy nộp tiền số: 10000874 Ngày 15/01/2024.
  • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng do các bị cáo dùng vào việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép: 03 gói bằng giấy trắng có in hình chữ, số nhiều màu, bên trong đều chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,276 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,226 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi “Tang vật vụ Vũ Thái P2 giám định ngày 05/01/2024; 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa ma tuý Heroine, khối lượng 0,113 gam, sau khi thu mẫu giám định còn 0,063 gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi “Tang vật vụ Trần Viết P1 giám định ngày 05/01/2024.
  • Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa Công an Thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo Trần Viết P1, Vũ Thái P2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Báo cho các Bị cáo Trần Viết P1, Vũ Thái P2 biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Các bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO TRẦN VIẾT PHONG - VŨ THÁI PHI BỊ XÉT XỬ VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger