Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/DS-ST

Ngày 11 tháng 9 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Vũ Thị Lệ Thuỷ
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc

-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1965, nơi cư trú cuối cùng: Số D đường T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (đã chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn:

  • + Ông Nguyễn Thế A, sinh năm: 1955
  • + Bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1985
  • + Ông Nguyễn Anh M, sinh năm: 1986

Cùng địa chỉ: A T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Bà Thi Thị Thanh N, sinh năm 1999, địa chỉ: Số D đường T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy uỷ quyền lập ngày 15/8/2024 tại Văn phòng C, thành phố Đà Nẵng) (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Thanh L, Luật sư Công ty L1, Đoàn luật sư Thành phố Đ (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P, cùng địa chỉ: Số B L, tổ B Thành V, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Bà P có mặt, ông N1 vắng mặt)

- Người làm chứng: Trần Thị Ánh N2, địa chỉ: B T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án lúc còn sống nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Xuất phát từ mối quan hệ quen biết, từ năm 2013 cho đến năm 2015 ông Nguyễn Viết N1, bà Phạm Thị P đã nhiều lần vay mượn tiền từ bà Nguyễn Thị T nhằm mục đích phục vụ nhu cầu cá nhân của mình. Khi mượn tiền, ông N1 bà phụng đã lập giấy tờ xác nhận sự việc để làm cơ sở pháp lý ràng buộc giữa các bên sau này. Kể từ thời điểm vay mượn cho đến nay đã 10 năm nhưng ông N1 bà P chỉ mới trả được 50.000.000 đồng trên tổng số nợ vào năm 2016, số tiền nợ còn lại là 450.000.000 đồng. Mặc dù bà T đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại cũng như gặp mặt trực tiếp yêu cầu ông N1 bà P thực hiện việc trả tiền tuy nhiên vẫn chưa thanh toán.

Nay bà T muốn thu hồi lại toàn bộ số tiền mà ông N1 bà P đã mượn. Ngày 08/4/2024 bà T đã có thông báo bằng văn bản về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền gửi cho ông N1 bà P với nội dung yêu cầu trong thời hạn 30 ngày phải trả hết khoản nợ nêu trên cho nguyên đơn.

Bà T yêu cầu Toà án buộc bị đơn ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P phải hoàn trả lại tổng số tiền gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 27/6/2024 là: 455.917.808 đồng, trong đó:

Nợ gốc: 450.000.000 đồng

Lãi chậm trả: 5.917.808 đồng

Tổng cộng: 455.917.808 đồng.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn là ông Nguyễn Thế A, bà Nguyễn Thanh T1, ông Nguyễn Anh M trình bày:

Vào ngày 08/7/2024 bà Nguyễn Thị T chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T gồm chồng bà T ông Nguyễn Thế A, con bà T là bà Nguyễn Thanh T1 và ông Nguyễn Anh M. Ngoài ra, bà T không có con riêng, con nuôi nào khác. Cha mẹ của bà T là ông Nguyễn T2, sinh năm 1924 và bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1926 đều đã chết từ lâu.

Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P thanh toán số tiền gốc và nợ lãi tính đến ngày 11/8/2024 là: 465.287.671 đồng, trong đó:

Nợ gốc: 450.000.000 đồng

Nợ lãi: 15.287.671 đồng

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị P trình bày:

Bà Phạm Thị P thừa nhận có vay mượn bà Nguyễn Thị T, có viết giấy vay nợ do bà P viết và ký tên như bà T khai là đúng. Chồng bà là ông Nguyễn Viết N1 không ký tên vào giấy vay tiền, bà P ký thay ông N1 nên ông N1 không liên quan. Sau đó bà P đã nhiều lần trả và tiếp tục vay thêm, tổng cộng đến tháng 03/2016 bà P còn nợ bà T 450.000.000 đồng. Vào lúc 16h00 ngày 03/01/2023, tại nhà bà T, bà P đã trả cho bà T 150.000.000 đồng. Bà P không viết được giấy trả nợ hay ghi âm được vì bà T không đồng ý, nhưng bà P có chụp ảnh lại đã cung cấp cho Toà án. Nay bà T khởi kiện, sau đó bà T chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T yêu cầu thanh toán nợ thì bà P xác nhận chỉ còn nợ bà T 300.000.000 đồng, bà P chỉ đồng ý trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T số tiền 300.000.000 đồng với phương thức là trả dần mỗi năm 40.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà P xin không trả lãi.

- Bị đơn ông Nguyễn Viết N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có ý kiến.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người làm chứng bà Trần Thị Ánh N2 trình bày:

Bà Trần Thị Ánh N2 là bạn bè quen biết của vợ chồng bà T và vợ chồng ông N1. Vào khoảng trước năm 2023, bà Trần Thị Ánh N2 gặp vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Viết N1 tại quán C1 phường T. Hai bên nói chuyện về việc trả nợ của bà Phạm Thị P cho bà Nguyễn Thị T. Tại cuộc nói chuyện ông Nguyễn Viết N1 có hứa trả hết số nợ vợ chồng ông N1 bà P vay của bà T là 450.000.000 đồng theo phương án vào cuối hàng năm sau khi nhận tiền dầu 300.000.000 đồng do Nhà nước hỗ trợ. Bà N2 có nói với anh N1 hứa như thế là được rồi và bà T đã đồng ý. Bà N2 cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn bà Phạm Thị P, người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Nguyễn Viết N1 không tham gia tố tụng là đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 466, Điều 469, khoản 2 Điều 468, Điều 613, Điều 614 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P phải thanh toán cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T số tiền gốc và lãi là 465.287.671 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P cư trú tại quận S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Ông Nguyễn Viết N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định nguyên đơn bà Nguyễn Thị T chết vào ngày 08/7/2024. Hàng thừa kế thứ nhất của bà T gồm cha mẹ của bà T là ông Nguyễn T2, sinh năm 1924 và bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1926 đều đã chết trước bà T. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T còn sống gồm chồng bà T là ông Nguyễn Thế A, con bà T là bà Nguyễn Thanh T1 và ông Nguyễn Anh M. Ngoài ra, bà T không có con riêng, con nuôi nào khác. Do vậy, Toà án xác định chồng và con của bà T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kể từ thời điểm mở thừa kế những người thừa kế của bà T có các quyền, nghĩa vụ tài sản do bà T để lại theo quy định tại Điều 613 và Điều 614 của Bộ luật Dân sự.

[2.2]. Căn cứ vào Giấy mượn tiền của nguyên đơn giao nộp, được bị đơn thừa nhận có ghi: “Ngày 12/10/2013 tôi tên Nguyễn Viết N1 và vợ Phạm Thị P có mượn Nguyễn Thị T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn), khi nào cần báo trước 01 tháng sẽ hoàn trả lại cho chị. Ngày 04/12/2014 số tiền 50 triệu, số tiền bằng chữ năm mươi triệu đồng. Ngày 11/4/2015 P có mượn chị T thêm số tiền 250.000.000 số tiền bằng chữ (hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn). Ngày 15/3/2016 P trả lại 100.000.000 (một trăm triệu đồng chẵn). Ngày 16/3/2016 P mượn lại 50.000.000, tổng P nợ 450.000.000 đến tháng 3/2016” thì đủ cơ sở xác định từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2016 ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P có vay của bà Nguyễn Thị P1 nhiều lần, tổng cộng số tiền cuối cùng hai bên chốt nợ là 450.000.000 đồng, không thoả thuận thời hạn vay, không thỏa thuận lãi suất, là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005. Việc xác lập hợp đồng vay tài sản của các bên phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

[2.3]. Bà Phạm Thị P khai chữ ký chồng bà là ông Nguyễn Viết N1 trong giấy vay tiền là do bà P ký thay ông N1, tuy nhiên nguyên đơn khai do cả hai vợ chồng bà P ông N1 cùng ký, theo lời khai của người làm chứng thì ông N1 cũng biết và xác nhận có nợ bà T, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án ông N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị đơn trong vụ án là cả hai vợ chồng ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P.

[2.4]. Đối với khoản tiền đã thanh toán: Bị đơn bà Phạm Thị P khai đã trả cho bà T số tiền 150.000.000 đồng vào ngày 03/01/2023. Bà Nguyễn Thị T khi còn sống và sau khi bà T chết thì người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T không thừa nhận việc bà P đã thanh toán một phần khoản nợ.

Xét thấy: Theo hình ảnh của bà P cung cấp về việc đã thanh toán 150.000.000 đồng thì thấy trong hình ảnh chỉ có hình của bà T đang ngồi và một cọc tiền bên cạnh được cố định lại bằng dây cao su nhưng không rõ là số tiền cụ thể bao nhiêu, ngoài hình ảnh ra không còn tài liệu gì khác chứng minh đó là số tiền bà P thanh toán trả nợ cho bà T, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định bà P đã thanh toán một phần tiền vay.

[2.5]. Tại phiên tòa người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P thanh toán số tiền gốc và lãi tính đến ngày 11/8/2024 tổng cộng: 465.287.671 đồng. Đối với bà Phạm Thị P khai có xác nhận trách nhiệm trả nợ nhưng chỉ trả số tiền 300.000.000 đồng với phương thức trả vào cuối năm, mỗi năm trả 40.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu được trả dần của bà P không được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[2.6]. Đối với khoản tiền lãi: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tiếp tục tính tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm: 450.000.000₫ x 10%/năm x 124 ngày = 15.287.671 đồng. Bà Nguyễn Thị P1 xin không trả lãi do hoàn cảnh khó khăn.

Xét thấy: Yêu cầu tính lãi của nguyên đơn trên số tiền gốc 450.000.000₫ là có căn cứ. Hợp đồng vay tài sản được các bên xác lập từ năm 2013 đến năm 2016, là hợp đồng không xác định thời hạn, đến ngày 08/4/2024 bà Nguyễn Thị T gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà P1 và ông N1, sau đó khởi kiện, thời gian tính lãi từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử sơ thẩm là 124 ngày với mức lãi suất 10%/01 năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, hướng dẫn tại Điều 2, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ phải trả là 20.000.000 đồng + (4% x 65.287.671 đồng) = 22.611.506 đồng. Nguyên đơn không chịu án phí, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn bà Phạm Thị P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Viết N1 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • - Điều 466, Điều 469, Điều 613, Điều 614, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 2, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Thế A, ông Nguyễn Anh M và bà Nguyễn Thanh T1 đối với ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P.

    Buộc ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P phải thanh toán cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Thế A, ông Nguyễn Anh M và bà Nguyễn Thanh T1 số tiền 465.287.671 đồng (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó:

    Tiền gốc: 450.000.000 đồng;

    Tiền lãi: 15.287.671 đồng.

    Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Viết N1 và bà Phạm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 22.611.506 đồng (Hai mươi hai triệu, sáu trăm mười một nghìn, năm trăm lẻ sáu đồng).

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Thế A, ông Nguyễn Anh M và bà Nguyễn Thanh T1 không chịu án phí, hoàn trả cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Thế A, ông Nguyễn Anh M và bà Nguyễn Thanh T1 số tiền tạm ứng án phí 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu số: 0002585 ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

  3. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 67/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T và ông N, bà P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger