|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/7/2024
Về việc tranh chấp: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hoàng Mích;
- Bà Bùi Thị Hồng Lam.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Hoàng Quí – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2024/QÐST- HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim N, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
ĐKTT: Ấp Q, xã R huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã Q, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Chị Kim N vắng mặt và có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 17 tháng 6 năm 2024.
- Bị đơn: Anh Đặng Thành Đ, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã C, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn xin ly hôn đề ngày 25/3/2024, Bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B vào năm 2012. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 01 chung tên là Đặng Thành T, sinh ngày 05/10/2010. Hiện cháu T đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Tại Bản tự khai ngày 17/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Thành Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với ý kiến của chị N thời điểm kết hôn, quá trình chung sống cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Từ tháng 6/2023 vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp ý nhau, thường xuyên cự cãi nên đã ly thân từ đó cho đến nay. Qua yêu cầu ly hôn của chị N, anh Đ không đồng ý ly hôn vì muốn hàn gắn lại để lo cho vợ con.
- Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 01 chung tên là Đặng Thành T, sinh ngày 05/10/2010. Hiện cháu T đang sống chung với chị N. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh đồng ý để chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Kim N đối với anh Đặng Thành Đ.
- Về con chung: Giao con chung tên Đặng Thành T, sinh ngày 05/10/2010 cho chị Phạm Thị Kim N được nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện chị Phạm Thị Kim N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.
- Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Thị Kim N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Đặng Thành Đ1 đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đặng Thành Đ2 đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Phạm Thị Kim N vắng mặt và có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 17/6/2024. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 25 ngày 26 tháng 4 năm 2012 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ được công nhận hợp pháp.
Nay, chị N yêu cầu ly hôn anh Đ không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị N, anh Đ trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nên anh chị đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.
Toà án đã tiến hành mời chị N và anh Đ để hoà giải nhằm cho các bên có cơ hội, thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không hàn gắn được.
Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị N và anh Đ đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị N và anh Đ có 01 chung tên là Đặng Thành T, sinh ngày 05/10/2010. Hiện cháu T đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân đến nay, chị N nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Do đó, nhằm để đảm bảo sự ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống, giao dục của con chung nên để chị N được tiếp tục nuôi con chung và việc này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T và quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về tài sản chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
[7] Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Do yêu cầu ly hôn được chấp nhận nên chị Phạm Thị Kim N phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Kim N đối với anh Đặng Thành Đ. Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim N và anh Đặng Thành Đ.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim N và anh Đặng Thành Đ theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 25 ngày 26 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
Giao con chung Đặng Thành T, sinh ngày 05/10/2010 cho chị Phạm Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện chị Phạm Thị Kim N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đặng Thành Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Phạm Thị Kim N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Đặng Thành Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của chị N, anh Đ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Phạm Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005565 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy, chị Phạm Thị Kim N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Kim N, anh Đặng Thành Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh Đ
