Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CÁI RĂNG

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/DS - ST

Ngày: 11/6/2024

V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Bích Huyền.
  2. Bà Lê Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024. Về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hứa Thiện T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Số 157B, Khu vực 2, Phường B L, Quận Cái Răng, TP.Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền:

  1. Ông Nguyễn Vũ Phong, sinh năm 1992. Có mặt.
  2. Ông Cao Dương Huy, sinh năm 2000.
  3. Bà Huỳnh Yến Duy, sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng 1, Số 390H, Đường Trần Nam Phú, Phường An Khánh, Quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ. (Giấy ủy quyền ngày 08/01/2024, BL 06-7).

Bị đơn: Ông Trần Hoàng N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số 379N, Khu vực Y H, Phường L B, Quận Cái Răng, TP Cần Thơ.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2024 và bản tự khai nguyên đơn Hứa Thiện T trình bày:

Trước đây do mối quan hệ quen biết nên ngày 16/11/2023 nguyên đơn cho ông Trần Hoàng N vay 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng), có ký Hợp đồng vay tiền cùng ngày công chứng số 3521, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Cửu Long. Theo Hợp đồng vay tiền ngày 16/11/2023 thì các bên có thỏa thuận thời hạn vay là 01 tháng và lãi suất do hai bên thỏa thuận theo qui định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Ông Trần Hoàng N đã thực hiện trả lãi xong nhưng đến hạn trả nợ gốc thì phía bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ yêu cầu trả nợ nhưng không có kết quả. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số nợ gốc là 550.000.000 đồng, tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 2,5%/tháng tính từ ngày 17/12/2023 cho đến khi trả xong nợ (BL 20).

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần ông Trần Hoàng N đến tham gia phiên họp về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cụ thể vào các ngày 11/3/2024, 29/3/2024 và ngày 23/4/2024 nhưng ông Trần Hoàng N vẫn vắng mặt mà không có lý do (BL 34, 43, 50). Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn nợ gốc là 550.000.000 đồng và tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo qui định pháp luật tính từ ngày 17/12/2023 cho đến khi xét xử xong; Yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trong giai đoạn thi hành án.

Bị đơn Trần Hoàng N vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: là phù hợp quy định pháp luật, không phát hiện vi phạm.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án xác định yêu cầu của nguyên đơn là có đủ cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nội dung cụ thể được trình bày tại Bài phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa (kèm theo hồ sơ).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Việc vay mượn tiền giữa các đương sự được lập bằng văn bản là Hợp đồng vay tiền ngày 16/11/2023 bản gốc (BL 12-13) thể hiện bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) nên xem đây là hợp đồng vay tài sản. Bên vay có nghĩa vụ phải trả cho bên cho vay tài sản theo thoả thuận. Giữa hai bên không thực hiện đúng thoả thuận nên xảy ra tranh chấp. Xét đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được ngành luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án khi các đương sự có yêu cầu theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Trần Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nguyên đơn đã yêu cầu Tòa án tiến hành thông báo nhắn tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng và Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần ông Trần Hoàng N đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông N vẫn vắng mặt mà không có lý do. Do đó, theo Điều 91, Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ những chứng cứ đã thu thập, có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.

[4] Về số nợ gốc, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn luôn vắng mặt, song căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể là Hợp đồng vay tiền ngày 16/11/2023 bản gốc (BL 12-13) do phía nguyên đơn cung cấp, thể hiện bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng), có chữ ký và điểm chỉ xác nhận của bị đơn và được công chứng số 3521, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Cửu Long. Ngoài ra, nguyên đơn còn cung cấp thêm Biên nhận nhận tiền ngày 16/11/2023 bản gốc (BL 62) chứng minh việc giao nhận tiền giữa hai bên. Cho nên đủ cơ sở kết luận ông Trần Hoàng N có vay và nợ nguyên đơn số tiền như trên. Phía bị đơn đã được hưởng quyền sở hữu tài sản vay đầy đủ nhưng lại không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cố tình kéo dài thời gian. Nên yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.

[5] Về lãi suất: nguyên đơn cho rằng hai bên có thỏa thuận lãi suất 1,67%/tháng và yêu cầu bị đơn trả lãi suất theo Hợp đồng vay tiền ngày 16/11/2023 bản gốc (BL 12-13). Nhưng Hợp đồng chỉ thể hiện số tiền vay, thời hạn vay và lãi suất do hai bên thỏa thuận theo qui định tại Điều 468 Bộ luật dân sự chứ không xác định rõ mức lãi suất cụ thể. Nên xem đây là trường hợp vay có kỳ hạn và có lãi theo Điều 463, 470 của Bộ luật dân sự. Trường hợp không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì mức lãi suất theo qui định là 50%(20%/năm) tức 0,83%/tháng.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 357, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả các khoản lãi bao gồm: Lãi trên nợ gốc trong hạn (tức 01 tháng từ ngày 16/11/2023 đến 16/12/2023), lãi trên nợ lãi trong hạn (01 tháng) và Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn (Từ ngày hết hạn vay tiền 17/12/2023 đến ngày xét xử 11/6/2024 là 05 tháng 25 ngày. Nên tiền lãi được tính cụ thể như sau:

  • Lãi trên nợ gốc trong hạn: nguyên đơn xác định đã thực hiện xong.
  • Lãi trên nợ lãi trong hạn: không có.
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn: 550.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 150% x 05 tháng 25 ngày = 39.943.750 đồng.

Nên số tiền lãi mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 39.943.750 đồng (Ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

[6] Tổng số tiền nợ gốc và lãi mà bị đơn Trần Hoàng N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Hứa Thiện T tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 550.000.000 đồng + 39.943.750 đồng = 589.943.750 đồng (Năm trăm tám mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

Thời hạn và phương thức trả nợ thuộc thẩm quyền của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh. Tuy nhiên, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Về chi phí thông báo nhắn tin tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng (theo Hóa đơn GTGT số 104 ngày 05/4/2024 và số 69 ngày 15/4/2024): Số tiền là 816.000 đồng + 1.944.000 đồng = 2.760.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) do nguyên đơn đã tạm ứng và tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp và bị đơn Trần Hoàng N phải chịu toàn bộ án phí là 20.000.000 đồng + 4%(589.943.750 đồng - 400.000.000 đồng) = 27.597.750 đồng (Hai mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 26, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự .
  • - Điều 463, 466, 468, 470 và Điều 357 Bộ luật dân sự.
  • - Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nợ vay của ông Hứa Thiện T. Buộc ông Trần Hoàng N có nghĩa vụ trả cho ông Hứa Thiện T số nợ gốc 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) và nợ lãi 39.943.750 đồng (Ba mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng), tổng cộng là 589.943.750 đồng (Năm trăm tám mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng) khi án có hiệu lực.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về chi phí thông báo nhắn tin tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng: ghi nhận nguyên đơn tự nguyện chịu số tiền 2.760.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) đã thực hiện xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn Trần Hoàng N phải chịu án phí có giá ngạch số tiền là 27.597.750 đồng (Hai mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
    • - Nguyên đơn Hứa Thiện T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.275.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003255 ngày 02 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng.
  4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo và kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND phường nơi cư trú hoặc từ khi nhận được bản án ông Trần Hoàng N được quyền kháng cáo để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ.
  • - VKSND Q.Cái Răng.
  • - Cơ quan Thi hành án.
  • - Người TGTT.
  • - Lưu HS – BA.

Thái Mỹ Nhung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TÒA

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Thái Mỹ Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS - ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 67/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Toàn kiện yêu cầu ông Nghỉ trả nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger