Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 10 - 5 - 2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Côn;
  2. Ông Nguyễn Tất Bẩy.

- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/HSST-QĐ ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không; Sinh, trú quán: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 08/12; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; Vợ: Lò Thị N1; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐ-XPHC ngày 11/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, xử phạt Nguyễn Văn G số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 14/4/2023 Giảng chấp hành số tiền trên; Tiền án : Không; Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/03/2024 đến nay “có mặt”.

Bà Trần Thị V, sinh năm 1967 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 “có mặt”.
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 “có mặt”.
  3. Anh Nguyễn Đức A, sinh năm 2012 - do Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958 là người đại diện theo pháp luật “có mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn G, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã P, huyện L là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/03/2024 G đi bộ đến nhà bà Trần Thị V, sinh năm 1967, trú ở cùng thôn, mục đích để tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đến nhà bà V, G đi ra phía sau nhà và đi đến vị trí cửa bếp quan sát thấy phía bên trái bên ngoài cửa bếp có 01 con gà trống (giống gà chọi), màu lông đỏ đen, nặng 3,1kg đang nằm trên giá gỗ, G dùng hai tay bắt con gà trên ôm đi ra đường liên thôn. Trên đường đi Giảng gặp cháu Nguyễn Đức A, sinh năm 2012 (là con trai của G) đang điều khiển xe đạp, G bảo cháu Đức A dừng xe lại rồi G cho con gà vào giỏ xe phía trước, sau đó điều khiển xe chở cháu Đức A đến khu vực cây xăng xã B, huyện L. Tại đây G đã bán con gà trộm cắp được cho một người đàn ông lạ mặt không quen biết. Khi bán cân con gà trên được trọng lượng 3,1kg người đàn ông trả cho G số tiền 320.000 đồng. Số tiền này G đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Ngày 13/03/2024 bà Trần Thị V đã làm đơn trình báo đến Công an xã P.

Ngày 13/3/2024 Nguyễn Văn G đã đến Công an xã P đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp con gà của gia đình bà V. Cùng ngày Công an xã P bàn giao Giảng cùng tài liệu cho Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngay sau khi tiếp nhận, cùng ngày 13/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trích xuất và thu giữ tại camera an ninh của gia đình bà Trần Thị V 01 video có hình ảnh liên quan đến việc gia đình bà bị trộm cắp gà ngày 08/03/2024, được lưu vào đĩa DVD; đồng thời tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án tại gia đình bà Trần Thị V ở thôn T, xã P, huyện L và nơi giảng bán con gà trộm cắp tại thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 14/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với con gà G đã trộm cắp của gia đình bà V. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: 01 con gà trống (giống gà chọi) màu lông đỏ đen, nặng 3,1kg có giá trị là 465.000đồng (bốn trăm sáu mươi năm nghìn đồng).

Ngày 22/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Văn G xem hình ảnh video đã thu giữ tại camera an ninh của gia đình bà V. Kết quả Giảng xác định nam thanh niên đang thực hiện hành vi trộm cắp con gà trống của bà V ngày 08/3/2024 chính là Nguyễn Văn G.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị N (mẹ bị cáo) đã bồi thường số tiền 500.000đồng cho bà Trần Thị V, bà V đã nhận được tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Về trách nhiệm bồi thường dân sự mẹ bị cáo tự bồi thường cho bị hại, bị cáo không tác động gia đình về việc bồi thường cho bị hại.

Bản Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/03/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn G là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/03/2024 tại thôn T, xã P, huyện L, G tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 01 con gà trống (giống gà chọi), màu lông đỏ đen, nặng 3,1kg, có giá trị là 465.000 đồng của bà Trần Thị V rồi mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có tiền sự. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông mua con gà của Nguyễn Văn G ngày 08/03/2024, quá trình điều tra G khai không quen biết và không biết tên, tuổi, địa chỉ, do đó Cơ quan điều tra không thu hồi được con gà và cũng không có căn cứ để xử lý đối với người này.

Đối với cháu Nguyễn Đức A là người đi cùng G bán tài sản, quá trình điều tra xác định cháu Đức A không được bàn bạc và không biết việc G trộm cắp con gà nêu trên do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với cháu Đức A.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/3/2024.

  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - CQCSĐTCA huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Phú Nhuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger