|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/DS-ST Ngày: 09-9-2024 “V/v Tranh chấp thoả thuận sử dụng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vinh
Bà Nguyễn Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 186/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-DS ngày 14/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2024/QÐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S – S1
- Địa chỉ trụ sở: Số B - B N, phường H, quận C, TP Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng S1
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trương Đình V, chức vụ: Chuyên viên Quản lý nợ - Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2024) (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: Ông Ngô Thanh V1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A đường C, tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2024 và các bản tự khai ngày 12/8/2024, ngày 09/9/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ông Trương Đình V trình bày:
Ngày 02 tháng 06 năm 2023, ông Ngô Thanh V1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V1, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với mục đích: tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V1 đã thực hiện 02 giao dịch với tổng số tiền 600.000 đồng. Lãi suất áp dụng 2,6%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.
Trong quá trỉnh sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông V1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 100.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V1 vẫn không ó thiện chí trả nợ. Do Ông V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 11/12/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày xét xử hôm nay (ngày 09/9/2024), ông V1 còn nợ Ngân hàng tổng cổng là: 2.442.479 đồng (Hai triệu, bốn trăm bốn mươi hai ngàn, bốn trăm bảy mươi chín đồng), trong đó bao gồm: Khoản dư nợ: 1.801.045 đồng; Lãi quá hạn: 641.434 đồng.
Đối với khoản vay tiêu dùng VTD SacombankPay số 211251 – 9301
Ngày 05/06/2023, sau khi được cấp thẻ tín dụng Ông V1 đã thực hiện 01 giao dịch với tổng số tiền là 48.000.000 đồng và Ông V1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.672.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ đến ngày 26/11/2023, Ông V1 đã không thực hiện thanh toán cho Ngân hàng, Ông V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày xét xử hôm nay (ngày 09/9/2024), ông V1 còn nợ Ngân hàng tổng cổng là: 62.070.330 đồng (Sáu mươi hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn, ba trăm ba mươi đồng), trong đó bao gồm: Khoản dư nợ: 50.680.000 đồng; Lãi quá hạn: 11.390.330 đồng.
Lãi suất trong hạn: 1.55%/ tháng và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu Ông V1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Ông V1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, S1 đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
Buộc ông Ngô Thanh V1 phải trả cho S1 tổng số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 09/9/2024) là: 64.512.809 đồng (Sáu mươi bốn triệu, năm trăm mười hai nghìn, tám trăm lẻ chín đồng), trong đó bao gồm: Dư nợ: 52.481.045 đồng; Lãi quá hạn: 12.031.764 đồng.
Buộc ông Ngô Thanh V1 phải chịu lãi, phí theo hợp đồng kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả hết các khoản nợ cho S1.
* Đối với bị đơn ông Ngô Thanh V1:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Ngô Thanh V1 không có ý kiến phản hồi, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Ngô Thanh V1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/9/2024) là 64.512.809 đồng, theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 06 năm 2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do đó, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng” khoản 15 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, cụ thể là “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng”, thông qua hình thức mở thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Ngô Thanh V1. Bị đơn ông Ngô Thanh V1 có nơi cư trú tại: Phường H, quận C, TP .. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng trong vụ án: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Đình V có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Thanh V1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Ngô Thanh V1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Trương Đình V và ông Ngô Thanh V1.
Về nội dung tranh chấp:
[4] Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Ngô Thanh V1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử là 64.512.809 đồng (Sáu mươi bốn triệu, năm trăm mười hai nghìn, tám trăm lẻ chín đồng), trong đó bao gồm: trong đó bao gồm: Dư nợ: 52.481.045 đồng; Lãi quá hạn: 12.031.764 đồng. Buộc ông V1 phải chịu lãi, phí theo hợp đồng kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả hết các khoản nợ cho S1.
[5] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Ngày 02 tháng 6 năm 2023 ông Ngô Thanh V1 ký kết giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng TMCP S để sử dụng đối với thẻ tín dụng do Ngân hàng phát hành, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông V1 thực hiện 02 giao dịch với số tiền lần 1 là 600.000 đồng và lần 2 là 48.000.000 đồng. Xét việc ký kết giao dịch giữa ngân hàng và ông V1 là trên cơ sở tự nguyện, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 13, 14 và 15 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Các bên tham gia trong giao dịch có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nêu trên.
[6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Ngô Thanh V1 phải trả số tiền tính đến ngày 09/9/2024 là 64.512.809 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ: 52.481.045 đồng; Lãi quá hạn: 12.031.764 đồng. HĐXX xét thấy: Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng như nêu trên thì ông V1 đã sử dụng khoản tiền vay hạn mức đối với thẻ tín dụng được cấp và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc, đốc thúc yêu cầu ông V1 trả nợ nhưng ông V1 vẫn không thanh toán cho ngân hàng. Do vậy, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng mà ông V1 đã ký kết. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với ông V1 là có cơ sở và phù hợp với các điều khoản trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 6 năm 2023; Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cũng như phù hợp với quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 8 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N nên HĐXX chấp nhận đối với số tiền dư nợ gốc.
[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ lãi, HĐXX xét thấy: Đối với giao dịch 600.000 đồng, lãi suất áp dụng là 2.6%/tháng, lãi phát sinh tính đến ngày 09/9/2024 là 641.434 đồng. Đối với giao dịch 48.000.000 đồng, lãi áp dụng trong hạn là 1.55%/tháng, lãi suất được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng về lãi suất cho vay. Mức lãi suất nêu trên được ông V1 ký kết với Ngân hàng tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 6 năm 2023; Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng tính yêu cầu lãi suất trên dư nợ quá hạn là 52.481.045 đồng tính đến ngày 09/9/2024 là 12.031.764 đồng là có cơ sở và được chấp nhận.
[8] Từ những nhận định nêu trên HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với ông Ngô Thanh V1.
[9] Về án phí:
Bị đơn ông Ngô Thanh V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.225.640 đồng. H cho Ngân hàng TMCP S tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 15 Điều 4; Điều 91; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
II. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Ngô Thanh V1 về “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng”.
- Buộc ông Ngô Thanh V1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 09/9/2024 là: 64.512.809 đồng (Sáu mươi bốn triệu, năm trăm mười hai nghìn, tám trăm lẻ chín đồng), trong đó bao gồm: Dư nợ: 52.481.045 đồng; Lãi quá hạn: 12.031.764 đồng.
- Kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Ngô Thanh V1 còn phải chịu mức lãi suất theo mức lãi suất đã ký tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 6 năm 2023; Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng TMCP S (có hiệu lực từ ngày 29/11/2019).
3. Về án phí:
- - Về án phí:
- + Ông Ngô Thanh V1 phải chị 3.225.640 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- + Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền 1.525.442 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn bốn trăm bốn mươi hai đồng) theo biên lai thu số: 0001717 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- - Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp thoả thuận sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 67/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thoả thuận sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín yêu cầu ông Ngô Thanh V trả số tiền 64.512.809 đồng
