|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/DS - ST.
Ngày: 09 - 9 - 2024.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Nguyễn Thanh Rực;
- Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2024/TLST – DS, ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST- DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là: S1); địa chỉ: Số B - B, đường N, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Gia T - Nhân viên công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: Số H L, phường A, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo giấy ủy quyền số 688/2024/UQ-TGĐ ngày 11/01/2024 (Vắng mặt).
Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn S1 là ông Trần Gia T trình bày:
Vào ngày 22 tháng 7 năm 2019, S1 và ông Huỳnh Thanh T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
Căn cứ vào thu nhập của ông Huỳnh Thanh T1, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), số thẻ 472075 - 7307, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Huỳnh Thanh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 220.989.900 đồng (Hai trăm hai mươi triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm đồng), lãi suất trong hạn 2,6%/tháng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông Huỳnh Thanh T1 chỉ thanh toán cho S1 số tiền là 197.000.000 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu đồng) (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Huỳnh Thanh T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Huỳnh Thanh T1 phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1) nên ngày 23 tháng 8 năm 2020 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). Tính đến ngày 09 tháng 9 năm 2024 ông ông Huỳnh Thanh T1 còn nợ S1 tổng cộng số tiền: 82.101.000 đồng (T2 mươi hai triệu một trăm lẻ một nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) và lãi quá hạn 54.010.122 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm mười nghìn một trăm hai mươi hai đồng).
Mặc dù S1 đã nhiều lần yêu cầu ông Huỳnh Thanh T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông Huỳnh Thanh T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S1. Vì vậy, ông Huỳnh Thanh T1 đã vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký kết.
Tại bản tự khai ngày 26/8/2024 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 26/8/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Huỳnh Thanh T1 trả ngay cho S1 toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến 09 tháng 9 năm 2024 với tổng số tiền: 82.101.000 đồng (T2 mươi hai triệu một trăm lẻ một nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín chục nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) và nợ lãi quá hạn 54.010.122 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm lẻ một nghìn một trăm hai mươi hai đồng) và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 7 năm 2019 cho đến khi ông Huỳnh Thanh T1 thanh toán xong các khoản nợ cho S1.
- Đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh T1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Thanh T1 nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho ông T1 được vì ông T1 đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới. Nên căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Thanh T1 theo đúng quy định của pháp luật. Ông Huỳnh Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán nợ gốc, tiền lãi phát sinh chưa thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Phú theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Gia T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 từ khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp được vì ông Huỳnh Thanh T1 đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới. Căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Thanh T1. Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông Trần Gia T và ông Huỳnh Thanh T1.
[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 phải có trách nhiệm trả cho S1 dư nợ còn thiếu của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng xác lập ngày 22 tháng 7 năm 2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1, số thẻ 472075 - 7307 với số tiền gốc là 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng), Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ là giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa người cấp thẻ là S1 và chủ thẻ chính được cấp là ông Huỳnh Thanh T1 xác lập ngày 22/7/2019 có chữ ký của bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 ở mục chủ thẻ chính cùng các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định pháp luật. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo các tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T1 nhưng ông T1 không có ý kiến phản đối gì. Căn cứ bản sao kê do Ngân hàng cung cấp ngày 15/5/2024 của S1 cho thấy ông T1 đã giao dịch bằng thẻ tín dụng số 472075 - 7307 từ ngày 22/8/2019 đến ngày 22/4/2020. Ngày 23/8/2020, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông T1 do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tại Điều 23 của điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng có quy định “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”.
Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định ông T1 đã vay và nhận đủ của nguyên đơn số tiền được cấp theo hạn mức thẻ tín dụng cấp ngày 22/7/2019 với số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) lãi suất trong hạn 2,6%/tháng là có căn cứ. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Huỳnh Thanh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 220.989.900 đồng (Hai trăm hai mươi triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông Huỳnh Thanh T1 chỉ thanh toán cho S1 được số tiền là 197.000.000 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu đồng) (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). S1 đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 đã phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1 nên ngày 23 tháng 8 năm 2020 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền gốc 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín mươi nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lãi quá hạn tạm tính từ ngày 23/8/2020 đến ngày 09/9/2024 là 54.010.122 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm mười nghìn một trăm hai mươi hai đồng). Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Điều 22 và Điều 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 áp dụng tính lãi quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với loại thẻ tín dụng quốc tế mà ông T1 đang sử dụng là “áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại”, như vậy theo thoả thuận ông T1 phải chịu lãi suất 3.9%/tháng (150% x 2.6%/tháng). Xét thấy, mức lãi suất của hợp đồng trên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo giao kết. Do đó, việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong từng hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Do đó, ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho S1 số tiền lãi quá hạn đến ngày 09/9/2024 là 54.010.122 đồng. (Năm mươi bốn triệu không trăm mười nghìn một trăm hai mươi hai đồng).
[5]. Như vậy, bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho S1 dư nợ của các hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số thẻ số thẻ 472075 - 7307 tính đến ngày 09/9/2024 với tổng số tiền là 82.101.000 đồng (T2 mươi hai triệu một trăm lẻ một nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín chục nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) và nợ lãi quá hạn 54.010.122 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm lẻ một nghìn một trăm hai mươi hai đồng) và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 7 năm 2019 cho đến khi ông Huỳnh Thanh T1 thanh toán xong các khoản nợ cho S1.
[6]. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
- Buộc bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S dư nợ tính đến ngày 09/9/2024 với tổng số tiền là 82.101.000 đồng (T2 mươi hai triệu một trăm lẻ một nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 28.090.878 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm chín chục nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) và nợ lãi quá hạn 54.010.122 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm lẻ một nghìn một trăm hai mươi hai đồng). Kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2024, ông T1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 7 năm 2019 cho đến khi Huỳnh Thanh T1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Về án phí: Bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 phải chịu 4.105.050 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ năm nghìn không trăm năm chục đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.828.852 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi tám nghìn tám trăm năm mươi hai đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phía Tòa án số 0033410, ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Bảo |
Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 67/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
