Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 8 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thuận và bà Phạm Thùy Trang.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 52/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành T, sinh ngày 01/01/1983, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Công D (đã chết) và bà Lê Thị X (đã chết); tiền án: Ngày 29/7/2003, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu (nay là thị xã T), tỉnh An Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến năm 2006 chấp hành xong án phạt tù; Ngày 12/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 10/02/2012; Ngày 02/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 22/6/2018; Ngày 18/3/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (bản án áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”), chấp hành xong ngày 07/01/2024; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/12/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu (nay là thị xã T), tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến năm 2002 chấp hành xong án phạt tù (bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi dưới 18 tuổi); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024 cho đến nay (có mặt).
  2. Lê Văn T1 (Sìn Ươn), sinh ngày 09/12/1993, tại Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị L; tiền án: Ngày 31/12/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 11/3/2016; Ngày 14/3/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/8/2020; Ngày 31/8/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (bản án áp dụng tình tiết “Có tính chất chuyên nghiệp”, “Tái phạm nguy hiểm”) chấp hành xong ngày 13/01/2024; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Chị La Thị Tuyết X1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu V B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
  • Anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, đường số A, khu vực P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
  • Anh Phan Thái T4, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Nguyễn Văn T5 (có mặt), Phan Quốc T6Nguyễn Thị L1 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thành T đã 05 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và bị cáo Lê Văn T1 đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản với tình tiết “tái phạm nguy hiểm; có tính chất chuyên nghiệp”, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành án, các bị cáo TT1 về sinh sống tại địa phương, không nghề nghiệp. Vào khoảng 13 giờ, ngày 02/5/2024, bị cáo T1 điều khiển xe mô tô biển số 59X1– 025.93 từ nhà thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến khu vực ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (nhà bà N) chơi, tại đây, bị cáo T rủ bị cáo T1 đi tìm tài sản lấy trộm, bị cáo T1 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo T mượn xe mô tô biển số 67H1 – 235.83 (của bà Nguyễn Thị N), chở bị cáo T1 đi về hướng xã P tìm xe gắn máy lấy trộm, khi đi đến trước nhà ông Nguyễn Văn T5 thuộc ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang, nhìn thấy, xe mô tô biển số 67H1 - 353.61, nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, màu sơn: đỏ - xám - đen của chị La Thị Tuyết X1 đang dựng cặp lề đường, không người trông coi. Bị cáo T dừng lại, ngồi trên xe cảnh giới bị cáo T1 đi bộ đến vị trí xe mô tô của chị X1, dùng chìa khoá (loại chìa khoá sử dụng cho xe Honda, chiều dài 09cm – do bị cáo T1 chuẩn bị trước), mở khoá, lấy trộm xe. Sau đó, các bị cáo T1, T mang xe mô tô biển số 67H1 – 353.61 đến huyện H, để tiêu thụ, đến khoảng 07 giờ cùng 03/5/2024, trong lúc đang tìm người mua xe, bị lực lượng Công an xã Thường Lạc, phối hợp Đồn Biên phòng Cửa khẩu C, nghi vấn, mời làm việc, thông báo cho Công an thị xã T tiếp nhận sự việc. Qua điều tra, các bị cáo T1, T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Phát hiện mất tài sản chị La Thị Tuyết X1 đến Công an xã V trình báo sự việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn T1Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản", nhập vụ án để điều tra theo quy định.

Tang vật thu giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô biển số 67H1 – 353.61, nhãn hiệu Honda, loại xe: Future Neo, màu sơn đỏ xám đen, số máy: JC35E-2728820, số khung: LHJC35098Y617268, đã qua sử dụng (đã trao trả cho bị hại); 01 chiếc xe mô tô biển số 67H1 – 235.83, nhãn hiệu SYMEN, màu sơn đen, đã qua sử dụng (đã trao trả cho bà Nguyễn Thị N); 01 chiếc xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn trắng - đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, số 027719; 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO A5 2020, màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A13, màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái chìa khoá, loại sử dụng cho xe honda, chiều dài 09cm, đầu chìa khoá bằng kim loại, đuôi chìa khoá có ốp mũ màu đen đóng chìm chữ HONDA, được móc với cong tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 783/KL-HĐĐG.TTHS, ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thị xã T: xe mô tô biển số 67H1 – 353.61, nhãn hiệu Honda, loại xe: Future Neo, màu sơn đỏ xám đen, số máy: JC35E-2728820, số khung: LHJC35098Y617268, đã qua sử dụng. Trị giá 16.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 777/KL-TTHS ngày 16/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: Xe mô tô biển số 59X1- 025.93 có số khung bị cắt hàn, số máy bị đục sửa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác nhận đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, nay chị X1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo TT1 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H Cáo trạng số: 46/CT-VKSTC ngày 09/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Thành T, Lê Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo TT1 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại chị X1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T4 và người làm chứng ông T5 giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra. Bị hại Xương đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T2, anh T3 và người làm chứng Thảo, L1 vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù; xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO A5 2020, màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A13, màu đen, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 cái chìa khoá, loại sử dụng cho xe Honda, chiều dài 09cm, đầu chìa khoá bằng kim loại, đuôi chìa khoá có ốp mũ màu đen đóng chìm chữ HONDA, được móc với cong tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng; Giao trả bị cáo T1 01 chiếc xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn trắng - đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, số 027719.

Các bị cáo Nguyễn Thành TLê Văn T1 không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và hoàn trả lại cho bị cáo T1 01 chiếc xe mô tô biển số 59X1 – 025.93 vì đây là tài sản của T1, không liên quan đến việc phạm tội. Bị hại thống nhất theo quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T2, anh T3 và người làm chứng Thảo, L1. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 02/5/2024, trước của nhà Nguyễn Văn T5 thuộc khu vực ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo T cảnh giới để bị cáo T1 lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 67H1 – 353.61, nhãn hiệu Honda, loại xe: Future Neo, màu sơn đỏ xám đen, số máy: JC35E-2728820, số khung: LHJC35098Y617268, đã qua sử dụng, trị giá 16.000.000 đồng của chị La Thị Tuyết X1. Trước đó, bị cáo Nguyễn Thành T đã 05 lần bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, trong đó 04 tiền án của tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và bị cáo Lê Văn T1 đã 03 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm; có tính chất chuyên nghiệp”, chưa được xóa án tích. Hành vi nêu trên của các bị cáo T, T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm; có tính chất chuyên nghiệp”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo TT1 đều là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng giản đơn, bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê và cảnh giới để bị cáo T1 thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại Xương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với từng hành vi của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Các bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy: Trước khi phạm tội các bị cáo TT1 đều là người có nhân thân xấu; bị cáo T đã năm lần bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, trong đó bốn tiền án của tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích; bị cáo T1 đã ba lần bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích; nay các lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO A5 2020, màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A13, màu đen, đã qua sử dụng, đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 cái chìa khoá, loại sử dụng cho xe Honda, chiều dài 09cm, đầu chìa khoá bằng kim loại, đuôi chìa khoá có ốp mũ màu đen đóng chìm chữ HONDA, được móc với cong tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng, đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn trắng - đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, số 027719 căn cứ lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án các anh Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức T3 và tài liệu chứng cứ khác xác định đây là tài sản do bị cáo T1 quản lý hợp pháp và không liên quan đến việc phạm tội, xét giao trả lại bị cáo T1.

[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành TLê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 06 (sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 03/5/2023).

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 04 (bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 03/5/2023).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO A5 2020, màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A13, màu đen, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 cái chìa khoá, loại sử dụng cho xe Honda, chiều dài 09cm, đầu chìa khoá bằng kim loại, đuôi chìa khoá có ốp mũ màu đen đóng chìm chữ HONDA, được móc với cong tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng; Giao trả bị cáo T1 01 chiếc xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn trắng - đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59X1 – 025.93, số 027719.

(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 10/7/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thành TLê Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thị xã (1);
  • - Chi cục Thi hành án DS thị xã (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Nhà Tạm giam (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T và T có hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger