Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 7 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,

Các Hội thẩm nhân dân.

- Ông Trần Thanh Hoàng,

- Ông Phạm Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Ông Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Minh H, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: tổ C, ấp D, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ chổ ở hiện nay: số A, đường T, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

- Bị đơn: Anh Trần Thanh H1, sinh năm 1983; địa chỉ nơi cư trú: tổ B, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.

Chị Lê Thị Minh H có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Trần Thanh H1 vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Minh H trình bày: Chị và anh H1 qua thời gian tự quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay phường N, thị xã T), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/2020 vào ngày 13/02/2020; Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2021, vợ chồng mâu thuẫn, mặc dù chị H nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, từ đó tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân đến nay, nên nhận thấy tình cảm không còn, nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh H1 có 01 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020 và hiện đang sống cùng với anh H1, khi ly hôn, chị Hòa đồng ý tiếp tục để con chung cho anh H1 nuôi dạy, chị không cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, do anh Trần Thanh H1 vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập họp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định pháp luật.
  • - Người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về hôn nhân: Chị H và anh H1 tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Quá trình sống chung, giữa chị H và anh H1 có 01 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020, hiên đang sống cùng gia đình bên nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2021, thì phát sinh mâu thuẫn do cả hai bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Chị H đã nhiều lần khuyên ngăn để hằn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được và hiện cả hai đã ly thân không còn chung sống với nhau. Từ khi sống ly thân đến nay, cả hai không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh H1 là có cơ sở để chấp nhận.
  • - Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Có 01 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020, cháu T từ nhỏ đã sống cùng gia đình bên nội. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuy nhiên, tại biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 23/5/2024, chị H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn và yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con, do nhận thấy cháu T từ nhỏ đã sống cùng gia đình bên nội và tự nguyên giao con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng.

Nhận thấy, cháu T trên 36 tháng tuổi, từ nhỏ đã sống cùng gia đình bên nội, hiện đã quen với môi trường sống để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của cháu T và tôn trọng tinh thần tự nguyện của nguyên đơn, nên cần xem xét giao cháu Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020 cho anh H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Đề nghị áp dụng các áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:

  • + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Minh H với anh Trần Thanh H1.
  • + Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Giao con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020 cho anh H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn cư trú trên địa bàn thị xã T. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.

[2] Về nội dung:

[2.1] Chị H và anh H1 tự quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay phường N, thị xã T), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/2020 vào ngày 13/02/2020, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hiện tại chị H và anh H1 đã không sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay; theo kết quả xác minh tại địa phương, do anh H1 và chị H khi cưới nhau đi làm xa tại P, tỉnh Kiên Giang, chỉ về dịp lễ, tết hoặc đám giỗ, nên địa phương không rõ mâu thuẫn giữa chị H và anh H1; trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần, nhưng anh H1 biết được việc chị H nộp đơn ly hôn, nhưng anh H1 vắng mặt, không có ý muốn hàn gắn đoàn tụ với chị H, nên hôn nhân giữa chị H và anh H1 không hạnh phúc, kéo dài sẽ gây đau khổ cho nhau, từ đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Chị H và anh H1 trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020, chị Hòa đồng ý để con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dạy, xét sự tự nguyện này không trái quy định của pháp luật, hiện nay cháu T đang sinh sống với anh H, nên đảm bảo tinh thần cho sự phát triển bình thường của cháu T, Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của chị H để con chung Trần Gia T cho anh H1 nuôi dạy; không xem xét cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

[2.3] Từ khi nộp đơn khởi kiện, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, chị H trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết; Anh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, cũng như các thông báo tố tụng, nhưng anh H1 không có ý kiến về việc này; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.4] Chị Lê Thị Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Trần Thanh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Minh H, chị Lê Thị Minh H được ly hôn với anh Trần Thanh H1;

Anh Trần Thanh H1 được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 17/6/2020; chị Lê Thị Minh H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Anh Trần Thanh H1, cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Lê Thị Minh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Chị Lê Thị Minh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0010768 ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; Chị H đã nộp đủ án phí.

Anh Trần Thanh H1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Chị Lê Thị Minh H và anh Trần Thanh H1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TX. Tịnh Biên (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - CCTHADS TX. Tịnh Biên (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HùngVõ Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu ly hôn với anh H2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger