Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 07-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Văn Bình

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương -Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Quang H, sinh ngày 02 tháng 03 năm 1977 tại Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B, có vợ là Nguyễn Thị N và có 02 con; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 81/2013/HSST ngày 20/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 02/11/2023; tạm giam ngày 10/11/2023; có mặt.

2. Vũ Mạnh H1, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D, tổ Đ, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Minh H2 (đã chết) và bà Hà Thị L, có vợ là Trần Thị Thu H3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 02/11/2023 đến ngày 10/11/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Mạnh H1: Bà Lương Thị T- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, Trần Quang H đi bộ đến khu vực ngõ C T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng. Do không mua được ma túy nên H đi ra ngoài ngõ thì gặp Vũ Mạnh Hồng điều k xe môtô biển kiểm soát: 15AA-085.32 đi tới. H1 hỏi H: “không lấy được hàng à” thì H nói “ở đây không bán, nếu mua thì chở H đi rồi H chia cho một ít”. H1 đồng ý và chở H đến khu vực đường T, quận N, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý. Đến nơi, H xuống xe và bảo H1 đứng chờ còn H đi sâu vào trong đường tàu Cầu Tre, gặp và mua của một nam giới khoảng 40 tuổi đeo khẩu trang 400.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng, kích thước 02 x 2,5cm bên trong có chứa Heroine. Mua xong, H cầm ở tay trái và đi ra chỗ H1 đang đợi rồi cả đi đến khu vực Công viên T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng. H1 dừng xe ở vỉa hè rồi vào ghế đá trong công viên ngồi; còn H lấy túi nilon ma túy vừa mua được, đổ một phần ra mảnh giấy sau đó cho một ít vào bơm kim tiêm mục đích để sử dụng, số ma túy còn lại thì H gói vào và cất vào trong túi quần phía trước bên phải; còn phần ma túy còn trong túi nilon thì H để vào giữa vị trí H và H1 đang ngồi, mục đích cho H1 để sử dụng. Ngay lúc đó, lực lượng Công an phường C đến kiểm tra. H1 dùng tay phải hất túi nilon ma tuý xuống phía sau ghế đá đang ngồi. Lực lượng Công an kiểm tra đã thu giữ của H 01 bơm kim tiêm bên trong có ma tuý; thu tại phía sau ghế đá H và H1 đang ngồi 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma tuý. Ngoài ra, còn thu giữ tại túi quần phía trước bên phải H đang mặc 01 gói giấy bên trong có ma tuý; 01 ống nước cất và số tiền 50.000 đồng; Thu giữ của H1 01 xe môtô, 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI màu xanh và số tiền 50.000đồng. Sau đó, dẫn giải H và H1 về trụ sở Công an phường C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại kết luận giám định số 878/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

Chất bột màu trắng bên trong túi nilon thu giữ của H là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,22gam.

Chất bột màu trắng bên trong bơm kim tiêm thu giữ của H là ma tuý; loại Heroine; khối lượng: 0,05 gam;

Chất bột màu trắng bên trong gói giấy thu giữ của H là ma tuý; loại Heroine; khối lượng: 0,05 gam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Quang H và Vũ Mạnh H1 đều khai nhận: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, H1 đi xe môtô chở H đến khu vực đường tàu Cầu Tre để mua ma túy sử dụng. Đến nơi, H bảo H1 đứng chờ, còn H đi vào trong đường tàu mua của một nam giới không quen biết 400.000đồng được 01 túi nilon Heroine. Mua xong, cả đi đến Công viên T rồi vào ghế đá ngồi; lúc này, H lấy túi ma túy vừa mua được, đổ một phần ra mảnh giấy rồi cho một ít vào bơm kim tiêm để sử dụng, số còn lại trong mảnh giấy thì H gói vào và cất vào trong túi quần phía trước bên phải; phần ma túy còn lại trong túi nilon thì H để vào giữa chỗ H và H1 đang ngồi với mục đích để cho H1 sử dụng. Ngay lúc đó thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 15AA-085.32, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Trần Thị Thu H3 là vợ của bị cáo H1. Chị H3 không biết H1 sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại chiếc xe trên cho chị H3.

Đối với nam giới bán ma tuý cho H, do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 15 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Quang H và bị cáo Vũ Mạnh H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

* Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quang H mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Mạnh H1 mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng;

Trả lại bị cáo H số tiền 50.000đồng và trả lại cho bị cáo H1 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI màu xanh và số tiền 50.000đồng.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo H1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Vũ Mạnh H1: Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, xem xét vai trò phạm tội của bị cáo trong vụ án là thứ yếu, thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo chưa tiền án, tiền sự, là người khuyết tật nặng; bố mẹ của bị cáo đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H1 mức án khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

  1. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, tại khu vực Công viên T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Trần Quang H và bị cáo Vũ Mạnh H1 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,32gam Heroine để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quang H và bị cáo Vũ Mạnh H1 đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  2. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, các bị cáo đã cất giữ trái phép để sử dụng, tội phạm các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

- Về vai trò phạm tội của các bị cáo: Bị cáo H là người khởi xướng việc đi mua ma túy, lựa chọn địa điểm, trực tiếp giao dịch và bỏ tiền ra mua ma túy. Bị cáo H1 là người giúp sức cho bị cáo H, đã đồng ý cùng đi mua ma túy và dùng phương tiện chở bị cáo H đến địa điểm mua ma túy. Vì vậy, vai trò phạm tội của bị cáo H cao hơn vài trò phạm tội của bị cáo H1.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  1. Bị cáo H có 01 tiền án: Tại bản án số 81/2013/HSST ngày 20/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  2. Bị cáo H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo H1 chưa tiền án, tiền sự, là người khuyết tật nặng, bị cáo có bố, mẹ là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo H1 còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H1. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H1 cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì H1 có vai trò thứ yếu và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên.

Đối với ý kiến của người bào chữa về việc đề nghị cho bị cáo H1 được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  1. Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ các bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;
  2. Đối với 01 ống nước cất chưa qua sử dụng và 01 bơm kim tiêm đựng ma túy đã thu giữ của bị cáo H, xét là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy;
  3. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI màu xanh cùng số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo H1 và số tiền 50.000đồng thu giữ của bị cáo H, quá trình điều tra xác định là tài sản của các bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho các bị cáo.

- Về án phí:

  1. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  2. Bị cáo H1 là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo H1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quang H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Mạnh H1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án; trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ trước đó (từ ngày 02/11/2023 đến ngày 10/11/2023).

Căn cứ vào khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Thời hạn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo H1 không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo H1 đi chấp hành án phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 878MT/PC09 và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng;

Trả lại bị cáo H số tiền 50.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Trả lại cho bị cáo H1 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI màu xanh có số Imel 863348042621531 và số tiền 50.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền này Công an quận L đã Ủy nhiệm chi cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 15 tháng 04 năm 2024);

(Theo đúng Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 04 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H1.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
  • - Sở tư pháp TP Hải Phòng;
  • - PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - UBND xã Bình Dương, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Trần Quang H - Vũ Mạnh H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger