TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-PT Ngày: 05/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và bà Nguyễn Thị Minh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Xuân P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
1. Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Xuân P, sinh ngày 01/11/2006; Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Đang học lớp 12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982; Đều có nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (Đều có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Lê Chí D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T; Ông Hà Trọng Đ1, ông Trần Ngọc C, ông Đoàn Thế H - Luật sư thuộc Công ty L và Cộng sự; Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà B5D6 ngõ 56 đường Trương Công Giai, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội
2
2. Bị hại: Anh Vũ Trung H1, sinh ngày 30/4/2005; Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;
Tại phiên tòa, bị cáo, ông Đ, bà M, Ông D, luật sư C, luật sư H1 có mặt, bị hại H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, luật sư Đ1 vắng mặt. Ngoài ra, trong vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Xuân P, Nguyễn Văn Q và Vũ Trung H1 có mâu thuẫn từ tối ngày 06/5/2023, khi H1 đi xe mô tô chọc ghẹo P và Q. Nhưng sau đó Q đã nhờ người hoà giải. Khoảng gần 21 giờ ngày 07/5/2023, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B6-418.86 của Q chở P ngồi phía sau, trên đường đi chơi về theo hướng thị trấn Đ đi xã L. Cùng đi ở phía sau là 03 người bạn đều ở cùng thôn đi trên 02 xe mô tô gồm Nguyễn Cao T chở Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Văn Đ2 đi một mình. Khi đi đến đường Đ, khu vực Công ty M1 thuộc xã Đ thì gặp Vũ Trung H1 điều khiển xe mô tô, loại Wave (không đeo biển kiểm soát) chở sau là Nguyễn Quang T1 đi ngược chiều. Nhìn thấy Q và P, H1 liền điều khiển xe quay ngược lại đuổi theo, đến khu vực chân cầu R, xã Đ thì đuổi kịp. H1 tăng ga cho xe đi song song gần sát với xe Q, H1 nói với P: “Hôm qua mày đáp gạch ai, mai đi học mày cẩn thận đấy”, P trả lời: “Tao với mày còn gặp nhau nhiều”. H1 tiến xe lên một đoạn tiếp tục nói với Q “Ông anh đi làm qua đây, cứ cẩn thận đấy”. Q không nói gì. Qua cầu R, trên đường đi thuộc địa phận xã L, H1 tiếp tục dùng tay phải đấm vào má bên trái của P, dùng chân phải đạp về phía xe Q nhưng không trúng rồi tăng ga bỏ chạy. Q liền tăng ga đuổi theo H1. Mục đích bảo H1 dừng xe nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn cho dứt điểm, tránh mâu thuẫn về sau. Q đuổi theo khoảng hơn 100 mét đến khu vực ngã ba đường Đ thuộc thôn D, xã P thì đuổi kịp. Lúc này, đường vắng, xe H1 đi ở phần đường bên trái, xe Q áp sát xe H1 vào lề bên trái đường hô “Dừng lại”. Khi hai xe đi chậm lại, khoảng cách song song giữa 02 xe khoảng gần 50cm, thì bất ngờ P dùng tay đẩy vào vai của H1, và dùng chân trái đạp vào phần giữa thân xe bên phải của H1 làm xe Hiếu đổ tại chỗ, nghiêng bên trái xuống đường; T1 ngồi sau nhảy ra khỏi xe nên không bị thương; xe của Q điều khiển cũng bị đổ nghiêng bên trái xuống đường sát với xe của H1. Q và P không bị thương. Xe của H1 hư hỏng nhẹ. H1 bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T từ ngày 07/5/2023 đến ngày 15/5/2023 được ra viện, sau đó phải điều trị răng tại Nha khoa thẩm mỹ X.
3
Kết luận giám định số 223/KLTTCT-TTPY ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: Vũ Trung H1, vùng môi, cằm bên trái có 5 vết sẹo nhỏ, cẳng chân trái có 4 vết sẹo nhỏ, 1 vết sẹo trung bình, bị gãy 1/3 giữa 02 xương cẳng chân trái; mất 03 chiếc răng gồm R2.1, R2.2, R3.2 và răng R1.1 và R2.3 mất một phần, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 41%;
Kết luận giám định bổ sung số 483/KLTTCT-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: Vũ Trung H1, vùng môi, cằm bên trái có 5 vết sẹo nhỏ, cẳng chân trái có 4 vết sẹo nhỏ, 1 vết sẹo trung bình; gãy 1/3 giữa 2 xương cẳng chân trái; mất 6 răng: 1.1, 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 3.2 và 2 răng 3.1, 3.3 điều trị bảo tồn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định bổ sung là 43%.
Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân P phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (với tình tiết định khung tại điểm a, khoản 1 Điều 134); áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 28, 50, 54, 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự, tuyên phạt Phạm Xuân P 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- - Áp dụng các Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587, 589, 590 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận thoả thận của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và anh Vũ Trung H1 về việc bị cáo Phạm Xuân P và gia đình bồi thường khắc phụ toàn bộ hậu quả do việc Phạm Xuân P đã gây thương tích cho anh H1 số tiền 145.000.000 đồng (trong đó đã nhận 20.000.000 đồng vào ngày 09/5/2023 và 125.000.000 đồng vào ngày 09/11/2023); Chấp nhận tự nguyện của anh Nguyễn Văn Q về việc anh Q không yêu cầu bị cáo P và đại diện hợp pháp của bị cáo P phải hoàn trả số tiền 30.000.000 đồng anh Q đã giao cho P và đại diện hợp pháp của P để khắc phục hậu quả cho anh H1.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/5/2024, bị cáo Phạm Xuân P kháng cáo đề nghị xem xét lại tính chất vụ án về tình tiết thủ đoạn và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và bổ sung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
4
nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các luật sư bào chữa cho bị cáo đều cho rằng hành vi của bị cáo là bột phát xuất phát từ lỗi của bị hại, không có thủ đoạn, không có sự sắp xếp, tính toán từ trước, mục đích chỉ buộc bị hại dừng xe nói chuyện và không có ý thức cố tình gây nguy hại cho nhiều người, đề nghị HĐXX không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” đối với bị cáo, xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, và xem xét nhân thân bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa đủ nhận thức và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với lời bào chữa của các luật sư và trợ giúp viên pháp lý, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2]Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả. Khoảng 21 giờ ngày 07/5/2023 trên đường Đ thuộc địa phận thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, do có mâu thuẫn với anh Vũ Trung H1 từ trước, khi xe mô tô do anh Nguyễn Văn Q điều khiển đi song song phía bên phải xe anh H1, Phạm Xuân P ngồi sau xe anh Q đã có hành vi dùng chân trái đạp vào bên phải thân xe mô tô do anh H1 điều khiển làm cả hai xe mô tô bị đổ xuống đường. Hậu quả anh H1 bị thương, tỷ lệ thương tích 43%, anh Nguyễn Quang T1 ngồi sau xe mô tô của H1 bị thương tích không đáng kể. Thời điểm P thực hiện hành vi phạm tội, trên xe mô tô của anh Q chở P, anh H1 điều khiển xe mô tô chở T1, cả hai xe đều đang tham gia giao thông và đi với vận tốc không nhỏ, đi ngay sau xe bị cáo vài mét còn hai xe cùng nhóm bạn có ba người. Bị cáo bắt buộc phải nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, dù chỉ mâu thuẫn với anh H1 nhưng vẫn cố ý thực hiện, có thể gây nguy hại không chỉ với anh H1, mà cả với anh T1 và những người khác. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Xuân P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung quy định tại
5
điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự “Dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng Điều 54 BLHS và các quy định xử lý với người dưới 18 tuổi phạm tội để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên mức hình phạt 03 năm tù là có phần nghiêm khắc. Bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại cũng có lỗi và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ông ngoại bị cáo là liệt sĩ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo Phạm Xuân P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân P, sửa bản án sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về mức hình phạt.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (với tình tiết định khung tại điểm a, khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 28, 50, 54, 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt Phạm Xuân P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phạm Xuân P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 67/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 67/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân P
