Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/DS-PT

Ngày 05 tháng 9 năm 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng

Ông Nguyễn Hán Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04/09/2024 và ngày 05/09/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo của đương sự.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968;
  • Hiện cư trú: Tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1964.
  • Hiện cư trú: Khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1945.
  • Hiện cư trú: Tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Xuân T:

  • - Luật sư Nghiêm Văn L1, Luật sư Cao Thị H, Luật sư Cao Thị H1 - Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H.
  • Địa chỉ: Số A V, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
  • - Luật sư Nguyễn Quốc T1 - Văn phòng luật sư T1 - L - Đoàn luật sư thành phố H.
  • Địa chỉ: số H, A phố L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975.
  2. ĐKHKTT: Tổ 38, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang bị tạm giam trong vụ án hình sự khác.
  3. Bà Nguyễn Thị Hồng H2.
  4. Hiện cư trú: Tổ 35, phố T, phường T, T.P V, tỉnh Phú Thọ.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Xuân T.

(Ông T, bà L, bà V, luật sư L1, luật sư H, luật sư H1 có mặt; vắng mặt luật sư T1, anh M, bà H2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Do quen biết với ông Nguyễn Xuân T, ngày 25/02/2022 ông T có đến nhà bà hỏi vay số tiền 1.200.000.000đ để chia tách đất, trong giấy vay có thỏa thuận thời hạn vay 20 ngày. Ông T và bà có thỏa thuận thỏa thuận miệng lãi xuất 2%/ 1 tháng. Đến này 01/11/2022 ông T đã trả cho bà 480.000.000đ, trong đó có 200.000.000đ tiền gốc và trả 280.000.000đ tiền lãi. Do bà không để ý nên đã ký vào giấy trả lãi 480.000.000đ. Sau đó ngày 08/12/2022, ông T viết lại cho bà giấy vay 1.000.000.000đ, có hẹn 12 tháng sẽ thanh toán. Từ đó đến nay bà đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T khất lần khất lượt không trả.

Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông T trả cho bà số tiền 1.000.000.000đ tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật, tính lãi suất từ ngày 08/12/2022.

Sau khi được tiếp cận biên bản lấy lời khai của anh M, ý kiến của bà như sau: việc ông T vay tiền của bà sau đó cho anh M vay lại bà không biết và không liên quan đến bà, anh M và ông T là chú cháu ruột nên lời khai không khách quan.

Đối với anh Nguyễn Văn M, bà có cho anh M vay tổng là 1.030.000.000₫, bà đã xuất trình giấy vay nợ tại Tòa án. Tính đến thời điểm ngày 08/12/2022 anh M vẫn chưa trả cho bà khoản tiền trên. Bà khẳng định nếu anh M vay thêm tiền của bà thì bà cũng không cho vay vì khoản nợ cũ anh M chưa trả cho bà. Khi ông T đến vay tiền của bà, chính tay ông T viết giấy vay nợ, mục đích vay nói là để làm thủ tục tách đất, khi viết lại giấy vay còn 1.000.000.000,đồng có chị H2 hàng xóm và là chị dâu bà, anh M cũng làm chứng. Trước khi cho ông T vay tiền, bà đã kiểm tra biết được đất nhà ông T rất rộng mấy nghìn mét vuông đất nên việc ông T nói vay tách đất là có cơ sở. Chính vì vậy bà đã cho ông T vay số tiền 1.200.000.000₫ như bà đã trình bày. Ông T nhận đủ tiền do bà đưa trực tiếp tại nhà bà, ông T cầm tiền đi về nhà.

Tại phiên tòa, đối với số tiền 280.000.000đ tiền lãi ông T đã trả, bà L đề nghị tính 160.000.000₫ là tiền lãi, 120.000.000₫ trừ vào số tiền gốc 1.000.000.000đ, bà chỉ đề nghị ông T trả cho bà số tiền gốc là 880.000.000đ và số tiền lãi theo quy định pháp luật, tiền lãi tính từ ngày 08/12/2022.

Ông T cho anh M vay tiền như thế nào thì ông T tự đi đòi anh M bằng vụ án khác.

Quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:

Ông có người cháu ruột tên là Nguyễn Văn M, là con trai của anh trai ông, nguyên là giám đốc quỹ tín dụng nhân dân phường T. Sáng ngày 24/2/2022, anh M có bảo ông sáng mai đến nhà chị L viết giấy vay hộ anh M một số tiền để anh M giải quyết công việc. Ông có nói với anh M là cháu cần tiền thì đến trực tiếp mà vay chị L sao lại bảo chú vay, chị L có biết chú là ai đâu mà cho vay. Anh M nói với ông chị L là con nhà ông G, với lại cháu đang làm giám đốc quỹ tín dụng phường Tiên Cát, không tiện vay tiền cá nhân khác, anh M nói chỗ anh M và chị L là chỗ làm ăn với nhau nên bảo ông sáng mai cứ ra nhà chị L viết giấy vay tiền. Khi ông hỏi anh M vay số tiền bao nhiêu, lãi suất thế nào thì anh M bảo ông viết giấy vay 1,2 tỷ và bảo ông không phải cầm tiền của chị L, chị L sẽ chuyển khoản qua tài khoản của quỹ tín dụng, còn lãi suất anh M sẽ thỏa thuận riêng với chị L. Do nể nang anh M là cháu ruột ông nên sáng 25/2/2022 ông đã ra nhà chị L ở tổ C phố T, phường T làm giấy vay tiền. Khi ông đến nhà chị L, chị L đã hỏi ngay ông là chú của M ở quỹ tín dụng à và hỏi ông vay bao nhiêu. Ông có nói là M bảo ông vay 1,2 tỷ, sau đó chị L lấy ra tờ giấy in sẵn cho vay tiền và hướng dẫn ông ghi vào những chỗ trống. Khi viết xong giấy chị L bảo ông là tiền sẽ chuyển xuống quỹ tín dụng cho M chứ không giao trực tiếp tiền cho ông.

Từ tháng 3 đến tháng 10/2022 việc trả lãi và tiền gốc đều do anh M trả cho chị L, bằng hình thức nào thì ông không rõ. Ngày 30/3/2022 anh M có đưa ông 30.000.000đ bảo ông mang ra trả lãi cho chị L nhưng chị L tính lãi mỗi tháng là 72.000.000₫ nên 30.000.000đ ít quá chị L không nhận. M có nhờ ông đi vay nóng mấy chỗ được 20.000.000đ, cộng lại bằng 50.000.000đ, ông thay mặt M trả cho chị L 50.000.000đ tiền lãi, chị L đã nhận và bảo ông ghi vào mặt sau tờ giấy vay tiền 1.200.000.000đ.

Đến ngày 01/11/2022 anh M đã trả lãi tổng cộng là 480.000.000₫ và 200.000.000đ tiền gốc chuyển qua tài khoản. Như vậy số tiền gốc anh M còn nợ lại chị L là 1.000.000.000 đồng. Ngày 08/12/2022 anh M cùng ông đến nhà chị L viết lại giấy vay tiền số tiền là 1.000.000.000đồng, giấy vay 1.200.000.000₫ chị L trả cho ông cầm. Anh M có trả gốc lãi cho chị L bằng hình thức nào ông không được biết.

Khi làm giấy vay tiền ngày 08/12/2022 có 03 người là anh M, ông và chị L, ngoài ra không còn ai khác, anh M là người ký chứng kiến.

Ông không quen biết chị L, chị L chỉ bằng tuổi con gái ông. Ông không có nhu cầu vay nhiều tiền. Ông viết giấy vay tiền chị L theo sự dàn dựng của anh M và chị L. Đề nghị Tòa án làm rõ sự thật.

Giữa ông và anh M không có viết giấy tờ gì về việc vay tiền. Ông cũng chưa báo cáo cơ quan điều tra. Ông đề nghị anh M phải trả tiền cho chị L.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn M trình bày: Liên quan đến khoản vay giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Xuân T là do anh bảo ông T đến vay tiền bà L, sau đó ông T cho anh vay lại số tiền này. Anh xin chịu trách nhiệm đối với khoản vay ông T, khi nào anh có tiền anh sẽ trả cho ông T, ông T cứ trả tiền cho bà L trước.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng H2 trình bày: Bà vừa là hàng xóm vừa là chị dâu của bà L, bà không có mâu thuẫn gì với ông T cũng như bà L. Bà không nhớ ngày giờ cụ thể nhưng đúng là bà có chứng kiến việc ông T có kí giấy vay chị L 1.000.000.000,đồng. Bà chỉ chứng kiến việc kí giấy vay tiền còn việc giao tiền giữa hai bên bà không chứng kiến và không biết.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Áp dụng: Điều 463, Điều 466; khoản 1 Điều 468 và Điều 357 của Bộ luật dân sự; Khoản 3, điều 26; điểm a, khoản 1 điều 35; điểm a, khoản 1 điều 39; khoản 1, khoản 5 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 - bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Buộc ông Nguyễn Xuân T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tính đến ngày xét xử 08/4/2024 là: 1.114.666.666₫, (Một tỷ một trăm mười bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) trong đó: 880.000.000 đồng (T2 trăm tám mươi triệu) tiền gốc và tiền lãi 234.666.666 đồng (Hai trăm ba mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo:

Do không đồng ý với nội dung kết luận phán quyết và quyết định của Tòa án nên ngày 22/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Xuân T kháng cáo Bản án số: 14/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ông đề nghị:

  1. Tòa án cấp phúc thẩm điều tra lại toàn bộ hồ sơ, chứng cứ, văn bản lời khai và các giấy tờ có liên quan đến vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L và bị đơn là ông Nguyễn Xuân T trong vụ án vay nợ tiền từ ngày 25/2/2022.
  2. Vụ án đã có ý dàn dựng những tình tiết sai sự thật, những giấy tờ chứng cứ giả thêm bớt và những khai báo không đúng sự thật để thực hiện mưu đồ vu cáo chiếm đoạt tiền tài sản của người khác và thực chất của vụ án đã có tình tiết vi phạm bộ luật hình sự cần phải được làm rõ để xét xử đúng luật định.
  3. Vụ án có liên quan đến 4 người có liên quan đến giấy tờ chứng cứ liên quan đến cả lời khai báo. Vậy đề nghị cơ quan Tòa phúc thẩm triệu tập các đương sự thực hiện đối chất trực diện để làm sáng tỏ mọi tình tiết mọi vụ việc công khai minh bạch trước pháp luật để Tòa án cấp phúc thẩm xét xử đúng luật, đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan trái.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, đề nghị tính lãi suất 10%/ năm. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm 03 vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng khi xác định không đúng đương sự tham gia vụ án, không tiến hành đối chất khi có nhiều mâu thuẫn trong lời khai gữa các đương sự, quyết định của bản án không hợp tình hợp lý, thiếu công bằng và không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. (Có bài luận cứ lưu hồ sơ vụ án).

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, kháng cáo đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, các bên đương sự đều thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo của ông T không có căn cứ đề nghị không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo. Sửa bản án sơ thẩm về phần lãi suất theo quy định.

(Chi tiết bài phát biểu của Viện kiểm sát lưu trong hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định.

Luật sư Nguyễn Quốc T1 vắng mặt lần hai, ông Nguyễn Xuân T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông T1. Do vậy, Hội đồng xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định.

Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Văn M tại giai đoạn mới thụ lý Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh M là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã xác định lại tư cách tố tụng của anh M là người làm chứng là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết ông T và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T có đề nghị triệu tập anh M đến phiên tòa và cho ông T được đối chất với anh M. Xét thấy, anh M đã được Tòa án cấp sơ thẩm lấy lời khai, anh M thừa nhận: khoản vay giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Xuân T là do anh bảo ông T đến vay tiền bà L, sau đó ông T cho anh vay lại số tiền này. Anh xin chịu trách nhiệm đối với khoản vay ông T, khi nào anh có tiền anh sẽ trả cho ông T, ông T cứ trả tiền cho bà L trước. Như vậy, lời trình bày của anh M không mâu thuẫn với ông T. Hiện nay anh M đang bị giam trong một vụ án hình sự khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không triệu tập được anh M đến tòa và bà Nguyễn Thị Hồng H2 từ chối đến Tòa (Bút lục 31) nên Tòa án không thực hiện theo đề nghị của ông T và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử đã yêu cầu ông T giao nộp Bản gốc Giấy biên nhận tiền ngày 25/02/2022 và Giấy biên nhận tiền lãi có chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị L ngày 01/11/2022 để xem xét trong vụ án nhưng ông T chỉ nộp bản photo đã được đối chiếu bản chính. Đối với số tiền liên quan trong hai giấy biên nhận bản gốc mà ông T đang lưu giữ, đã được xem xét trong vụ án này do vậy hai giấy biên nhận bản gốc này không còn giá trị để xem xét trong việc giải quyết vụ án dân sự khác.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của ông Nguyễn Xuân T. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông T trả cho bà số tiền 1.000.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật, tính lãi suất từ ngày 08/12/2022.

Theo trình bày của bà L, do quen biết với ông Nguyễn Xuân T, ngày 25/02/2022 ông T có đến nhà bà hỏi, bà cho vay số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) để chia tách đất, trong Giấy biên nhận vay tiền có thỏa thuận thời hạn vay 20 ngày. Về lãi suất, ông T và bà có thỏa thuận miệng lãi xuất 2%/01 tháng. Tính đến ngày 01/11/2022, ông T đã trả cho bà 480.000.000₫ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng), trong đó có 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) tiền gốc và trả 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) tiền lãi. Do bà sơ suất nên đã ký vào giấy ghi trả 480.000.000₫ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng) tiền lãi. Đến ngày 08/12/2022 ông T có viết lại cho bà G1 biên nhận vay tiền mặt số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) thời hạn thỏa thuận vay là 12 tháng, hết thời hạn vay, đến nay ông T khất lần không trả.

Về phía ông T, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông đều thừa nhận chữ viết và chữ ký trong phần người vay tiền trong Giấy biên nhận vay tiền ghi ngày 25/02/2022, sau thay thế bằng Giấy biên nhận vay tiền mặt ngày 01/11/2022 và giấy xác nhận trả tiền như chị L nêu trên đúng là chữ ký và chữ viết của ông.

Ông T cho rằng lý do ông viết và ký giấy vay tiền là do nể nang cháu của ông là anh Nguyễn Văn M, ông chỉ viết hộ anh M giấy vay tiền, ông không cầm tiền. Ông bị bà L và bị anh M lừa nên ông không phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự Hội đồng xét xử nhận thấy ông T là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có hiểu biết pháp luật để nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ khi ký vào phần người vay tiền trên giấy vay tiền. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tiền, ông thừa nhận ông là người tự tay viết giấy xác nhận nội dung đã trả cho bà L số tiền 480.000.000đ để yêu cầu bà L ký xác nhận đã nhận tiền, tự tay viết Giấy biên nhận vay tiền mặt ghi ngày 08/12/2022 và giữ giấy biên nhận vay tiền bản gốc viết ngày 25/02/2022. Theo đó cho thấy bản thân ông T ý thức và nhận thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của người vay tiền và giá trị pháp lý của các giấy tờ này.

Trong Giấy biên nhận vay tiền mặt ghi ngày 08/12/2022, ngoài chữ ký của ông T còn có chị Nguyễn Thị Hồng H2 và anh Nguyễn Văn M, cùng ký ghi làm chứng. Chị H2 và anh M đều là người thân của một trong hai phía, về phía ông T cho rằng khi viết Giấy biên nhận vay tiền mặt không có chị H2 làm chứng. Về phía chị H2 trình bày, chị ký làm chứng nhưng không được nhìn thấy bà L giao tiền cho ông T nên chị Nguyễn Thị Hồng H2 và anh Nguyễn Văn M ký ghi làm chứng là không đảm bảo tính khách quan để đánh giá. Tuy nhiên, ông T bà L đều thống nhất thừa nhận đây là “Giấy biên nhận vay tiền mặt” do ông T viết lại sau khi đã trừ đi số tiền gốc và lãi mà ông T đã trả. Vì vậy, Giấy biên nhận vay tiền mặt ghi ngày 08/12/2022 vẫn là căn cứ pháp lý để xem xét quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự.

Tại phiên tòa, ông T cho rằng một khoản tiền lớn như vậy mà không có giấy tờ gì về giao nhận tiền mặt, ông không cầm tiền, ông bị bà L và bị anh M lừa, ông chỉ viết hộ giấy biên nhận vay tiền cho anh M, anh M phải là người trả cho bà L là không có cơ sở. Vì: trên thực tế xác định, ông T là người ký giấy biên nhận vay tiền, Giấy biên nhận vay tiền mặt là cơ sở pháp lý để xác định người vay có nghĩa vụ trả nợ, mặt khác ông cũng thừa nhận Giấy biên nhận vay tiền mặt ghi ngày 08/12/2022 là viết lại sau khi đã trừ đi số tiền đã trả trước đó. Nếu thực tế ông cho rằng, ông chưa được nhận tiền thì tại sao ông phải yêu cầu bà L ký xác nhận nội dung ông đã trả nợ số tiền 480.000.000đ và viết lại Giấy biên nhận vay tiền số tiền từ 1.200.000.000đ thành số tiền 1.000.000.000đ. Theo đó, ông T là người ký Giấy biên nhận vay tiền phải là người có nghĩa vụ trả nợ cho bà L theo quy định tại điều 463, điều 465 Bộ luật dân sự. Việc sau khi ông T ký vay nợ và đồng ý để bà L chuyển tiền cho anh M như ông trình bày là một quan hệ pháp luật dân sự khác giữa ông và anh M, Ông T có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Về tiền lãi: Đối với số tiền lãi đã trả, tại giấy biên nhận ngày 01/11/2022, ông T ghi đã thanh toán cho bà L 480.000.000đ tiền lãi. Ông T cho rằng anh M đã chuyển khoản cho bà L 200.000.000đ tiền gốc qua tài khoản ngân hàng, số tiền 480.000.000đ là tiền lãi từ tháng 3/2022 đến hết tháng 10/2022, bà L đã tính lãi lúc đầu là 8 tháng x 72.000.000đ = 576.000.000đ, sau đó anh M thương lượng đã giảm xuống 8 tháng x 60.000.000đ = 480.000.000đ (bản tự khai ngày 22/01/2024). Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của ông T, ông không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Tại phiên tòa bà L không thừa nhận anh M đã chuyển khoản cho bà L 200.000.000đ tiền gốc, bà cung cấp chứng cứ chứng minh bà và anh M có nhiều giao dịch vay nợ khác nên lời khai của ông T là không có cơ sở. Về số tiền lãi đã trả, ông T cho rằng ngày 30/3/2022 ông đã đến trả lãi cho bà L số tiền 50.000.000đ, sau đó bà L bảo ông tự tay ghi đã tạm trả lãi. Bà L thừa nhận có nhận của ông T như ông T trình bày, sau đó được tính tổng trong số 480.000.000đ được ghi trong giấy xác nhận ngày 01/11/2022. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung giấy giấy xác nhận ngày 01/11/2022 thì xác định bà L chưa tính 50.000.000đ vào số tiền mà ông T đã trả. Theo đó, tính đến ngày 08/12/2022 ông T đã trả cho bà L tổng số cả gốc và lãi 530.000.000đ.

Về lãi suất, tại các giấy biên nhận vay tiền đều không ghi cụ thể mức lãi suất các bên thỏa thuận, theo ông T trình bày, mức lãi suất mà ông đã trả cho bà L là 72.000.000đ/1 tháng tương đương 6%/1tháng, 72%/1năm. Về phía bà L cho rằng ông T và bà có thỏa thuận miệng lãi xuất 2%/1 tháng, tại cấp sơ thẩm bà đề nghị Toà án buộc ông T phải trả lãi suất 20%/năm kể từ ngày 08/12/2022 đến khi thi hành xong. Xét thấy giấy vay nợ không không ghi cụ thể lãi suất là bao nhiêu, giữa hai bên có sự thống nhất thỏa thuận trả lãi nhưng các bên không thống nhất được mức lãi suất. Trước khi vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm bà L đề nghị tính lãi theo quy định pháp luật cả những khoản đã trả lãi trước khi khởi kiện, nếu thừa thì trừ vào gốc. Số tiền còn lại ông T trả cho bà L gốc + lãi đến khi trả xong. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định có việc vay nợ giữa ông Nguyễn Xuân T với bà Nguyễn Thị L là thực tế, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L và buộc ông Nguyễn Xuân T ngoài tiền gốc phải trả còn phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L tiền lãi mức lãi suất 20% được tính như sau: 1.200.000.000₫ x 8 tháng x 20%/1 năm= 160.000.000₫.

Ông T đã trả cho bà L số tiền 480.000.000 đồng - 160.000.000 đồng = 320.000.000 đồng, số tiền này được trừ vào gốc 1.200.000.000,đồng - 320.000.000 đồng = 880.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tính đến thời điểm xét xử ngày 08/4/2024, ông T còn phải trả cho bà L số tiền lãi của 16 tháng là: 880.000.000đ x 16 tháng x 20%/1 năm = 234.666.666₫.

Tại cấp phúc thẩm bà L giữ nguyên mọi yêu cầu, chỉ thay đổi mức lãi suất đề nghị ông T phải có nghĩa vụ trả lãi cho bà 10%/ năm. HĐXX nhận thấy đề nghị của bà L là tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Do vậy số tiền gốc và lãi được tính lại như sau:

Về tiền lãi: 1.200.000.000đ x 8 tháng x 10%/1 năm = 80.000.000đ.

Ông T đã trả cho bà L 530.000.000 đồng - 80.000.000 đồng tiền lãi = 450.000.000 đồng. Số tiền này được trừ vào gốc 1.200.000.000 đồng - 450.000.000 đồng = 750.000.000 đồng tiền gốc. Như vậy tính đến thời điểm xét xử ngày 08/4/2024, ông T còn phải trả cho bà L 750.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi của 16 tháng là: 750.000.000 đồng x 16 tháng x 10%/1 năm = 100.000.000 đồng.

Về thời điểm tính lãi sau khi có đơn yêu cầu thi hành án, tại phiên tòa phúc thẩm bà L đề nghị tính lãi từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, đề nghị của bà L là tự nguyện không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[2.2] Ông T cho rằng ông bị bà L và cháu của ông là anh Nguyễn Văn M lừa nên ông viết giấy biên nhận vay tiền của bà L hộ cho anh M, ông không được nhận tiền. Quá trình giải quyết ông T cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông đề nghị Tòa án cho đối chất, đi thu thập sao kê tiền chuyển tài khoản. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay anh M đang bị tạm giam trong một vụ án hình sự khác việc làm thủ tục cho đối chất tại Tòa rất khó khăn. Mặt khác, như phân tích trên, có đủ căn cứ xác định ông T là người phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà L. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của anh M, cho ông T và bà L đối chất. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không cần thiết nên không thực hiện theo đề nghị của ông T và luật sư.

Về việc đề nghị chuyển hồ sơ để xem xét xử lý về hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng, ông T đã làm đơn tố cáo chị L về hành vi cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự gửi cơ quan điều tra, công an thành phố V ngày 20/8/2024. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố V đã có thông báo trả lời đơn cho ông T về việc không có dấu hiệu của tội phạm nên không tiến hành thụ lý đơn. Do vậy Tòa án không chuyển hồ sơ cũng như không tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định. Đối với hành vi của anh M, ông T cho rằng lừa đảo ông, ông có quyền làm đơn đến cơ quan điều tra tố cáo, giải quyết theo quy định.

[3] Từ các phân tích tại mục [2] cho thấy, yêu cầu kháng cáo của ông T và yêu cầu của các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, một trong các lý do đề nghị hủy bản án sơ thẩm đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T. Do vậy, sửa phần quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ về tính lại lãi suất, trừ vào tiền gốc theo hướng có lợi cho ông T là không vi phạm, việc sửa bản án sơ thẩm về tiền gốc và tiền lãi như trên đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của ông T nên ông T được chấp nhận một phần kháng cáo.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của bà L được chấp nhận, kháng cáo của ông T được chấp nhận một phần. Ông T là người cao tuổi, có đề nghị xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308, điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T3.

Sửa bản án sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Áp dụng: Điều 463, Điều 466; khoản 2 Điều 468 và Điều 357 của Bộ luật dân sự; Khoản 3, điều 26; điểm a, khoản 1 điều 35; điểm a, khoản 1 điều 39; khoản 1, khoản 5 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 - bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Buộc ông Nguyễn Xuân T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tính đến ngày xét xử 08/4/2024 là: 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc và 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền lãi. Tổng số tiền ông T phải trả cho bà L là 850.000.000 đồng (T2 trăm năm mươi triệu đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành án thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

[2] Án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T là người cao tuổi, có đề nghị xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 67/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện ông Nguyễn Xuân T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger