TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 04 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Ngọc Anh – Giáo viên, Phó trưởng phòng Giáo dục thành phố Châu Đốc;
- - Bà Trần Thị Ánh Hằng – Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh N (N), sinh năm 2001; nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh C, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1971; chưa vợ con.
Tiền án: ngày 18/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đến ngày 25/7/2022, chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay (có mặt).
2. Nguyễn Nhạc P (Phi N1), sinh năm 2003; nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: tổ A, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V (chết) và bà Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1984; chưa vợ con.
Tiền án: ngày 17/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đến ngày 19/4/2022 chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: không.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ – Công an thị xã T (có mặt).
3. Đỗ Trần Gia B (Bảo Nhỏ), sinh ngày 27/9/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 3 tháng 15 ngày); nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình K, sinh năm 1982 và bà Trần Thị Thúy V1, sinh năm 1982; chưa vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Trần Gia B: bà Trần Thị Thúy V1, sinh năm 1982 (là mẹ bị cáo B); nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Trần Gia B: ông Trần Phước T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt.
Bị hại: Vũ Lê T3 (Thanh Đ), sinh ngày 22/01/2010; nơi cư trú: tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Lê T3: Ông Vũ Xuân T4, sinh năm 1979 (là cha bị hại T3); nơi cư trú: tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Đặng Nhựt N2, sinh ngày 01/10/2008; nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Nguyễn Được T5 (Tiền Đen), sinh ngày 21/3/2008; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Trần Trọng N3 (N), sinh ngày 12/9/2008; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Nguyễn Văn C1, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
- - Nguyễn Thị G sinh năm 1982 (vắng mặt);
- - Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2009 (vắng mặt);
- - Trần Kim N4, sinh ngày 25/9/2009 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, sau khi uống rượu xong, bị cáo Trần Thanh N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Future Led (không rõ biển số của Nguyễn Thành Đ) chở Đặng Nhựt N2 và Nguyễn Được T5 lưu thông trên đường T, phường N, thành phố C. Khi này, bị cáo Trần Thanh N thấy bị hại Vũ Lê T3 (sinh ngày 22/01/2010) điều khiển xe mô tô biển số 67DA - 0050 chở Trần Kim N4 (bạn gái của Vũ Lê T3, sinh ngày 25/02/2009) chạy cùng chiều, phía trước. Do có mâu thuẫn từ trước với Vũ Lê T3, nên Trần Thanh N điều khiển xe vượt lên và kêu Vũ Lê Thanh ngừng xe vào lề đường. Trần Thanh N kêu N4 xuống xe để Đặng Nhựt N2 chở N4 về nhà; bị cáo Trần Thanh N cầm dao (loại dao bằng nhựa, dài khoảng 20cm, cán màu đen, lưỡi màu trắng, sóng dao hình răng cưa) dí vào người Vũ Lê Thanh b lên xe cầm lái, bị cáo Trần Thanh N ngồi giữa cầm dao dí vào lưng Vũ Lê T3, T5 ngồi sau cùng; bị cáo Trần Thanh N kêu bị hại T3 chạy vào nhà của Nguyễn Nhạc P tại khóm V, phường N, thành phố C. Tại đây, bị cáo Trần Thanh N ngồi kế canh giữ bị hại T3 trong phòng ngủ của P; P và T5 dùng tay chân đánh, đá nhiều cái vào người bị hại T3; Nhựt N2 gọi điện video cho Trần Trọng N3 xem xác định có phải là Vũ Lê T3 hay không thì N3 nói đúng. Một lúc sau N3 chở Đỗ Trần Gia B đến, xác định đúng là Vũ Lê T3, nên N3 và B dùng tay chân đánh đá bị hại T3 nhiều cái. Sau đó, Thanh N, N3, B, P, T5, Nhựt N2 đứng xung quanh canh giữ bị hại T3 đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, P sợ bị lực lượng Công an phát hiện nên kêu cả nhóm bắt T3 đưa xuống vườn trồng mít của Nguyễn Văn C1 (tổ A, ấp V, xã V, thành phố C) để tiếp tục giữ và đánh T3, thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Thanh N đi sau cầm dao dí vào lưng bị hại T3 cho T5 điều khiển xe mô tô hiệu Dream (không nhớ
biển số) chở T3 ngồi giữa, Thanh N ngồi sau cùng giữ T3. N3 điều khiển xe mô tô (không nhớ biển số) chở P và B ngồi sau, đến vườn mít. Tại đây T, P, T5, N3, B dùng tay chân đánh đá nhiều cái vào người của T3. Thấy T3 không chống trả nên cả nhóm ngừng đánh và đứng xung quanh, giữ T3 cho đến khoảng 06 giờ cùng ngày cho T3 về nhà. Trần Kim N4 sau khi về nhà đến Công an phường C, thành phố C trình báo. Ngày 12/01/2024, Trần Thanh N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đầu thú.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 143/24/KLTTCT-TTPY ngày 09/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận thương tích của Vũ Lê T3, sinh năm 2010:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Vùng đầu, mặt, ngực, bụng, lưng, cánh tay, cẳng tay, đùi phải, đùi trái, cẳng chân phải, cẳng chân trái không để lại thương tích.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần xác định phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên của Vũ Lê T3 tại thời điểm giám định là 00%.
Ngày 19/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P và Đỗ Trần Gia B về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 39/CT-VKS-CĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P và Đỗ Trần Gia B về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 131 đến 162). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục từ 84 đến 88, từ 101 đến 124).
Tại phiên tòa,
- - Các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P, Đỗ Trần Gia B thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Người đại diện hợp pháp của bị cáo B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.
- - Người bào chữa cho bị cáo B thống nhất tội danh, điều khoản và mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Tuy nhiên bị cáo B chưa thành niên, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.
- - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P và Đỗ Trần Gia B về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật ', quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nên giữ nguyên quan điểm truy tố.
Đề nghị xử lý:
- + Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 58 và Điều 38, xử phạt bị cáo Trần Thanh N từ 04 đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
- + Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 58 và Điều 38, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhạc P từ 04 đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- + Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 58 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trần Gia B từ 02 đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
Đối với: Đặng Nhựt N2, Nguyễn Được T5, Trần Trọng N3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nhựt N2, T5, Nghĩa là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập
hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Vào khoảng 2 giờ 30 ngày 11/01/2024, Trần Thanh N và Đặng Nhựt N2, Nguyễn Được T5 đã có hành vi khống chế, bắt Vũ Lê T3 lên xe để đi về nhà Nguyễn Nhạc P tại tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, giữ để đánh T3. Sau đó, Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P, Đỗ Trần Gia B và Trần Trọng N3 tiếp tục giữ và bắt T3 đưa đến vườn trồng mít của Nguyễn Văn C1 (tổ A, ấp V, xã V, thành phố C) để tiếp tục giữ và đánh T3. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm quyền tự do thân thể của con người được pháp luật bảo vệ, nên đủ yếu tố cấu thành tội "Bắt, giữ người trái pháp luật", quy định tại Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
[2] Các bị cáo Thanh N, Phi 2 lần thực hiện hành vi bắt, giữ người trái pháp luật đối với bị hại T3 (sinh năm 2010, chưa đủ 18 tuổi), do đó Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Thanh N, P theo điểm d, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Bị cáo B 2 lần thực hiện hành vi bắt, giữ người trái pháp luật đối với T3, viện kiểm sát truy tố bị cáo B theo điểm d khoản 2 Điều 157 là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên, đối với việc áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B Hội đồng xét xử không chấp nhận, bởi lẽ về chủ thể, bị cáo B dưới 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLHS quy định: "1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm". Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội, chỉ áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự (phạm tội đối với người dưới 18 tuổi) đối với người phạm tội là người từ đủ 18 tuổi trở lên.
[4] Tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền tự do thân thể của con người mà còn gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, để đáp ứng yêu cầu giáo dục, răn đe, phòng ngừa.
[6] Về vai trò đồng phạm:
Trong vụ án này, các bị cáo cùng đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trần Thanh N là người khởi xướng, thực hành tích cực, chuẩn bị hung khí cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo giữ vai trò chính, chủ mưu phạm tội. Bị cáo Nguyễn Nhạc P giúp sức tích cực, chuẩn bị nơi bắt, giữ bị hại T3 và là người khởi sướng, rủ rê các bị cáo khác, trong đó có bị cáo Đỗ Trần Gia B là người dưới 18 tuổi. Bị cáo B là người thực hành và giúp sức cho bị cáo Thanh N, Phi bắt, giữ đánh T3.
[7] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Thanh N và Nguyễn Nhạc P đã bị kết án (bị cáo N bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc kết án 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 25/7/2022; bị cáo P bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang kết án 06 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt ngày 19/4/2022), cả hai bị cáo chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo P đã có hành vị xúi giục B (người dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy bị cáo P phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, các bị cáo thuộc thành phần học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
Đối với bị cáo B, khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, nên áp dụng không quá ¾ khung hình phạt luật định.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đề cập.
[9] Các vấn đề khác: Đối với Đặng Nhựt N2, Nguyễn Được T5, Trần Trọng N3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nhựt N2, T5, Nghĩa là có căn cứ.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P và Đỗ Trần Gia B phạm tội
“Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/01/2024 (Mười hai tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhạc P 04 (B1) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Trần Gia B 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/01/2024 (Hai mươi hai tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P, Đỗ Trần Gia B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/7/2024), các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Nhạc P, Đỗ Trần Gia B; người đại diện hợp pháp của bị cáo B (bà V1), người bào chữa cho bị cáo B (Trần Phước T2 – Trợ giúp viên pháp lý), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (N3) có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại (T3), người đại diện hợp pháp bị hại (Vũ Xuân T4) và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Đặng Nhựt N2, Nguyễn Được T5, Nguyễn Văn C1) vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội bắt, giữ người trái pháp luật
