Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

-

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 67/2024/HS-ST

Ngày 04 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định

Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và ông Đinh Đức Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, số 56/2024/QĐXXST-HS, ngày 21/5/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Văn N; sinh ngày 30 tháng 11 năm 1999, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: Năm 2021, bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 07/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 01/02/2024, tạm giam từ ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đàm Quang C; sinh ngày 09 tháng 4 năm 1984, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: thôn D, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Quang Đ và bà Nguyễn Thị Y; có vợ là Nguyễn Thị X; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 01/02/2024, tạm giam từ ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn S; sinh ngày 26 tháng 7 năm 1999, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T1; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 01/02/2024, tạm giam từ ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. ông Vũ Đăng K, sinh năm 1954. Nơi cư trú: thôn D, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

2. anh anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: thôn A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 ngày 23/01/2024 Hoàng Văn N mang theo 16 túi nilon bên trong chứa ma túy “đá” đến nhà Đàm Quang C thuộc thôn D, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh rủ C sử dụng ma túy, C đồng ý. Chí xuống bếp lắp bộ đồ sử dụng ma tuý, N lấy trong túi áo khoác N đang mặc 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine rồi đưa cho C, C cho hết số ma túy này vào trong bên trong ống thủy tinh và dùng bật lửa châm lửa đốt ống thủy tinh chứa ma túy để lần lượt N và C sử dụng mỗi người 2 lượt. Lúc này, Nguyễn Văn S gọi điện cho N, N rủ S đến nhà C để cùng sử dụng ma túy. Một lúc sau, S đến, C tiếp tục dùng bật lửa châm lửa đốt ma túy còn lại trong bộ đồ sử dụng để lần lượt S, N, C sử dụng, mỗi người sử dụng được 2-3 lượt thì hết. S đưa cho N 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng chứa ma túy đá (N cho S trước đó), N đưa lại cho C để C đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Chí châm lửa đốt để cả ba cùng tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi đang ngồi chơi thì lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính và thu giữ, tạm giữ: 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong chứa 15 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu tím được đục thủng 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng-tím, 01 lỗ còn lại gắn đoạn ống thủy tinh màu trắng một đầu có bầu tròn, bên trong bám dính chất cặn màu trắng; 01 bật lửa nhiều màu sắc gắn đầu đốt kim loại; 01 vỏ đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín một đầu; 01 điện thoại di động hiệu Redmi, bỏ màu đen bên trong gắn sim của N; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng bên trong gắn sim của S.

Tại bản Kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn, dạng vết không xác định khối lượng.

Chất tinh thể màu trắng trong 15 túi nilon gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,161 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Tìm thấy extromethamphetamin (là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Methamphetamine) trong mẫu nước tiểu thu của Đàm Quang C, Hoàng Văn NNguyễn Văn S gửi giám định.

Về vật chứng vụ án: Số ma tuý hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 203 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu tím được đục thủng 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng - tím; 01 bật lửa nhiều màu sắc gắn đầu đốt kim loại; 01 vỏ đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín một đầu; 01 điện thoại di động hiệu Redmi, vỏ màu đen bên trong gắn sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng bên trong gắn sim chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q để quản lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 520/CT-VKSQY ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố: Hoàng Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Đàm Quang CNguyễn Văn S về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, luận tội và đề nghị:

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 18 tháng đến 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/01/2024.

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đàm Quang C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/01/2024.

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/01/2024;

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo;

- Căn cứ: các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định trong niêm phong số: 203/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 02 sim điện thoại gắn trong máu thu giữ của N và S; chai nhựa màu trắng, nắp chai màu tím được đục thủng 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng - tím; 01 bật lửa nhiều màu sắc gắn đầu đốt kim loại; 01 vỏ đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín một đầu không còn giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Redmi, vỏ màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, N còn khai: Ngày 21/01/2024 N mua 1,5 gam (17 túi và 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng) ma túy “đá” của một người không quen biết trên mạng xã hội với giá 1.800.000 đồng. N mang về nhà sử dụng hết 01 túi ma túy và đưa cho S 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng bên trong chứa ma túy. Đến khoảng 09 giờ ngày 23/01/2024, N mang theo 01 hộp nhựa bên trong chứa 16 túi ma túy đá đến nhà Chí chơi, C và N rủ nhau sử dụng ma túy. N đưa C 01 túi ma tuý để cùng nhau sử dụng, còn 15 túi ma tuý N để trong hộp nhựa để dưới đất. Một lúc sau, S gọi điện, N rủ S đến nhà C cùng sử dụng ma túy, S đến và cùng sử dụng ma túy với C và N, sau đó S đưa ống nhựa bên trong có ma túy mà ngày 22/01/2024 N cho S để cả ba cùng nhau sử dụng tiếp. Khi vừa sử dụng xong cả ba đang ngồi chơi thì bị Công an đến kiểm tra. 15 túi ma túy cất trong hộp nhựa để dưới đất là ma túy của N, C và S không biết N có số ma túy này. Số ma túy này N để sử dụng dần cho bản thân.

Đàm Quang C khai: Bộ đồ sử dụng ma túy là của C, C là người cho ma túy vào bộ đồ sử dụng ma túy và châm lửa đốt để C, S và N cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà C. 15 túi ma túy bị Công an thu giữ là của N, C không biết N có số ma túy này.

Nguyễn Văn S khai: Ống nhựa màu hồng chứa ma túy mà S mang đến nhà C để cùng C và N sử dụng là của N đưa cho S vào ngày 22/01/2024. S không biết 15 túi ma túy Công an thu giữ là của ai.

Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận: Việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Những người chứng kiến: anh Lê Văn Đ1 và ông Vũ Đăng K có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, khai chứng kiến việc lập Biên bản vi phạm đối với: Khoảng 10 giờ ngày 23/01/2024 được lực lượng Công an mời chứng kiến việc Công an kiểm tra phát hiện tại nhà Đàm Quang C thuộc thôn D, xã H, thị xã Q có Đàm Quang C, Nguyễn Văn SHoàng Văn N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ tại hiện trường 01 bộ đồ sử dụng ma túy và 01 hộp nhựa bên trong có 15 túi nilon.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của những người chứng kiến, nội dung biên bản kiểm tra hành chính và biên bản bắt khám xét khẩn cấp, vật chứng thu giữ của các bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 23/01/2023, tại nhà Đàm Quang C thuộc thôn D, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Đàm Quang C, Hoàng Văn NNguyễn Văn S có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị bắt, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, Hoàng Văn N còn tàng trữ trái phép 1,161 (Một phẩy một sáu một) gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Các bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; hành vi của các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố các bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1]Hình phạt chính:

- Về tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nghĩa là người khởi xướng, đến nhà rủ bị cáo C và qua điện thoại rủ bị cáo S cùng sử dụng ma túy, bị cáo Nghĩa là người cung cấp ma túy cho các bị cáo khác cùng sử dụng, bị cáo N đã bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, lần phạm tội này chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm”. Bị cáo C là người có địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, châm lửa đốt ma túy để cho các bị cáo cùng nhau sử dụng, bị cáo Chí giữ vai trò thực hành tích cực, nên chịu mức hình phạt sau bị cáo N. Bị cáo S đưa ma túy (do bị cáo N cho trước đó) để bị cáo N đưa cho C để cùng nhau tiếp tục sử dụng, như vậy, bị cáo S phạm tội lần đầu là người giúp sức và giữ vai trò không đáng kể, nên chịu mức hình phạt sau cùng.

Hành vi tàng trữ tại chỗ ở 1,161 gam ma tuý loại Methamphetamine của bị cáo Nghĩa là hành vi phạm tội độc lập không liên quan đến các bị cáo C và S, nên bị cáo N phải chịu 1 mình.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội khi chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đàm Quang CNguyễn Văn Sang N1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội lần đầu là người giúp sức và giữ vai trò không đáng kể, do đó được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo S đã có thành tích tiêu biểu trong công tác khi đang tại ngũ tại bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh và được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến, nên xem xét áp dụng được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo thấy cần thiết phải có mức án nghiêm, cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo riêng và răn đe, phòng ngừa chung mới đủ để rèn luyện, giáo dục các bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ mầu đen (thu của bị cáo N) và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ mầu vàng hồng (thu của bị cáo S) sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, các thẻ sim lắp trong các điện thoại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với: 01 (Một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu tím được đục thủng 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng - tím; 01 (Một) bật lửa nhiều màu sắc gắn đầu đốt kim loại; 01 (Một) vỏ đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín một đầu và mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 203/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, không còn giá trị sử dụng và là vật Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu huỷ.

[5] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với người bán ma túy cho bị cáo Hoàng Văn N quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; các bị cáo Đàm Quang CNguyễn Văn S phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (T2) năm tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 10 (M1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/01/2024.

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đàm Quang C 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/01/2024.

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ mầu đen (thu của bị cáo N) và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ mầu vàng hồng (thu của bị cáo S);

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) sim điện thoại gắn trong máy điện thoại thu giữ của NS; 01 (Một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu tím được đục thủng 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng - tím; 01 (Một) bật lửa nhiều màu sắc gắn đầu đốt kim loại; 01 (Một) vỏ đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín một đầu và mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 203/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q.

(Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 15 giờ, 15 phút, ngày 24/5/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 và khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo Hoàng Văn N, Đàm Quang CNguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát NDTX Quảng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Quảng Yên;
  • - Công an thị xã Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TX Quảng Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Nghĩa cùng đồng phạm, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger