TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 02/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Bình Nguyên
- 2. Ông Trần Văn Hưng
- -Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Đặng Duy K
sinh năm 1987 tại Bến Tre; nơi cư trú: Số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1959; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: không;
Tiền sự: ngày 20/12/2023 bị Công an xã M, thành phố B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC, bị cáo chưa đóng phạt).
Nhân thân:
- Ngày 20/01/2009, bị Tòa án Quân sự Khu vực 2 - Quân khu G xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án hình sự sơ thẩm Số 03/2009/HSST, chấp hành xong bản án ngày 30/4/2010).
- Ngày 01/01/2003, bị Ủy ban nhân dân xã M, thị xã B (nay là thành phố B) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Đánh nhau gây rối an ninh trật tự” (Quyết định Số 153/QĐ-XPVPHC).
- Ngày 27/3/2003, bị Ủy ban nhân dân xã M, thị xã B (nay là thành phố B) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sản xuất vũ khí thô sơ và tàng trữ (mã tấu)” (Quyết định Số 31/QĐ-XPVPHC).
- Ngày 07/7/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thị xã B (nay là thành phố B) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “Đánh người có hung khí, gây rối an ninh trật tự khu vực nơi công cộng tái phạm nhiều lần” (Quyết định Số 05/QĐ-UB).
- Ngày 06/6/2007, bị Công an xã M, thị xã B (nay là thành phố B) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (theo thủ tục đơn giản) với mức phạt 100.000 đồng về hành vi “Gây mất an ninh trật tự” (Quyết định Số 43/QĐ-XPHC).
- Ngày 20/12/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố B áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 năm từ ngày 20/12/2023 (Quyết định Số 55/QĐ-UBND).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2024 cho đến nay, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn S, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Người bào chữa của bị cáo: Luật sư Lê Văn T thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Đoàn D, sinh năm 1987; nơi cư trú: số C, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Nguyễn Tấn P, sinh năm 1993; nơi cư trú: số A, ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Phạm Nguyễn T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: số A, khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
- Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1989; nơi cư trú: số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Trần Quốc S1, sinh năm 1990; nơi cư trú: số I, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
- Đặng Thành N1, sinh năm 1979; nơi cư trú: số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Người làm chứng: Lê Tuấn H, sinh năm 1978; nơi cư trú: số C, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1959, ĐKTT: số A, ấp M, xã M, thành phố B điện thoại đến Công an xã M báo việc con ruột bà N là Đặng Duy K có biểu hiện loạn thần do sử dụng ma túy, đập phá đồ đạc và đe dọa giết bà N nếu không xin được tiền. Nhận được tin báo, đồng chí Lê Tuấn H, Trưởng Công an xã M, tiến hành phân công Tổ công tác gồm các đồng chí: Đại úy Phạm Đoàn D - Tổ trưởng và 04 tổ viên gồm: đồng chí Thượng úy Nguyễn Tấn P, Trung úy Phạm Nguyễn T1 và 02 đồng chí lực lượng Công an bán chuyên trách tham gia đảm bảo an ninh, trật tự là Trần Quốc S1, Đặng Thành N1 phối hợp với đồng chí Nguyễn Thanh T2 Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã M đến nhà bà Nguyễn Thị Tuyết N ở số A, ấp M, xã M, thành phố B mời Đặng Duy K về trụ sở Công an xã M để làm rõ nội dung bà N báo.
Khi lực lượng Công an đến nhà bà N, phát hiện K ở khu vực nhà tắm, Tổ công tác yêu cầu K về trụ sở Công an xã M làm việc thì K không chấp hành mà bỏ chạy vào nhà nên đồng chí D bắn 02 phát súng chỉ thiên cảnh cáo nhằm mục đích để K đứng lại và chấp hành mệnh lệnh của tổ công tác. Sau đó, K bỏ chạy về phòng của mình và chốt cửa bên trong. Tổ công tác tiến hành cạy mở cửa, sau khi mở được cửa đồng chí D dùng 01 bàn tròn bằng inox có đường kính mặt bàn là 110cm để che chắn và Tổ công tác tiến vào bên trong phòng, tiếp tục yêu cầu K về trụ sở Công an xã làm việc. Bất ngờ K rút dao dưới gối, tung người đạp 01 cái vào bàn tròn và dùng dao chém 02 cái vào bàn inox do đồng chí D đang cầm trên tay để che chắn nên Tổ công tác lui ra ngoài và báo cáo cấp trên tăng cường lực lượng hỗ trợ. Trưởng Công an thành phố B cử lực lượng gồm 04 người đến hỗ trợ. Sau khi khống chế, áp giải K về trụ sở Công an xã M, đến khoảng 16 giờ cùng ngày K được đưa vào bệnh viện tâm thần tỉnh B để điều trị.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) bàn tròn bằng kim loại, màu trắng có đường kính mặt bàn là 110cm, chiều cao 73cm, bàn đã qua sử dụng, mặt bàn có nhiều vết hằn, trầy xước.
- 01 (một) dao có tổng chiều dài là 43cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chiều rộng nơi lớn nhất là 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm. Trên cán dao có dán giấy ghi chữ “SINH LỢI”, loại dao mũi bằng, phần mũi tiếp giáp lưỡi bị cong.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần Số 384/KL-VPYTW ngày 11/6/2024 của V đối với Đặng Duy K:
- Về y học: Trước khi gây án, đương sự bị Hội chứng nghiện do sử dụng chất kích thích (F15.2 – ICD.10). Trong khi gây án, đương sự bị rối loạn loạn thần do sử dụng chất kích thích (F15.5 – ICD.10). Sau khi gây án và hiện nay, đương sự bị Hội chứng nghiện do sử dụng chất kích thích (F15.2 – ICD.10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án, đương sự bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện nay, đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Quá trình điều tra, Đặng Duy K đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có liên quan và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xử lý: 01 (một) bàn tròn bằng kim loại, màu trắng có đường kính mặt bàn là 110cm, chiều cao 73cm, bàn đã qua sử dụng, mặt bàn có nhiều vết hằn, trầy xước là vật mà đồng chí D trong Tổ công tác dùng để che chắn và 01 (một) dao có tổng chiều dài là 43cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chiều rộng nơi lớn nhất là 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, trên cán dao có dán giấy ghi chữ “SINH LỢI”, loại dao mũi bằng, phần mũi tiếp giáp lưỡi bị cong là công cụ K dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSTPBT ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Đặng Duy K về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 01 (một) bàn tròn bằng kim loại, màu trắng có đường kính mặt bàn là 110cm, chiều cao 73cm, bàn đã qua sử dụng, mặt bàn có nhiều vết hằn, trầy xước. Ghi nhận bà N không yêu cầu bồi thường các khoản nào khác.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao có tổng chiều dài là 43cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chiều rộng nơi lớn nhất là 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, trên cán dao có dán giấy ghi chữ “SINH LỢI”, loại dao mũi bằng, phần mũi tiếp giáp lưỡi bị cong.
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo bà Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Bà là mẹ của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Cái bàn mà lực lượng công an sử dụng là của bà, bà yêu cầu được nhận lại và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác trong vụ án.
- Người bào chữa của bị cáo trình bày: Ông thống nhất với bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, thấy rằng quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành thẩn khai báo, đồng thời bị cáo có thời gian đi nghĩa vụ quân sự. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị mất khả năng nhận thức, thiệt hại gây ra không lớn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo với mức hình phạt nhẹ nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
- Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 29/02/2024, tại nhà số A, ấp M, xã M, thành phố B, Tổ công tác Công an xã M gồm các đồng chí: Đại úy Phạm Đoàn D -Tổ trưởng và 04 tổ viên gồm đồng chí Thượng úy Nguyễn Tấn P, Trung úy Phạm Nguyễn T1 và 02 đồng chí lực lượng Công an bán chuyên trách tham gia đảm bảo an ninh, trật tự là Trần Quốc S1, Đặng Thành N1 phối hợp với đồng chí Nguyễn Thanh T2 Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã M đang thi hành công vụ là mời Đặng Duy K về trụ sở Công an xã M, thành phố B làm việc theo sự phân công của Trưởng công an xã M thì Đặng Duy K không hợp tác mà có hành vi dùng chân đạp 01 cái và dùng dao chém 02 cái vào tổ công tác nhưng không gây thương tích cho ai do Đại úy Phạm Đoàn D sử dụng 01 bàn inox che chắn nên không ai bị gây thương tích.
[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã dùng chân đạp 01 cái và dùng dao chém 02 cái vào Tổ công tác gồm Đại úy Phạm Đoàn D - Tổ trưởng và 04 tổ viên gồm: đồng chí Thượng úy Nguyễn Tấn P, Trung úy Phạm Nguyễn T1 và 02 đồng chí lực lượng Công an bán chuyên trách tham gia đảm bảo an ninh, trật tự là Trần Quốc S1, Đặng Thành N1 phối hợp với đồng chí Nguyễn Thanh T2 Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã M do Trưởng công an xã M phân công làm nhiệm vụ mời Đặng Duy K về trụ sở Công an xã M, thành phố B làm việc. Mặt dù tại thời điểm phạm tội bị cáo bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng nguyên nhân là do bị cáo sử dụng chất kích thích nên căn cứ vào quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây dư luận, bất bình trong xã hội cho quần chúng nhân dân.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đã nhiều làn bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” và “Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự” theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội bị cáo bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng nguyên nhân là do sử dụng chất kích nên không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội bị hạn chế năng nhận thức và điều khiển hành vi” quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao có tổng chiều dài là 43cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chiều rộng nơi lớn nhất là 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, trên cán dao có dán giấy ghi chữ “SINH LỢI”, loại dao mũi bằng, phần mũi tiếp giáp lưỡi bị cong là dụng cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 01 (một) bàn tròn bằng kim loại, màu trắng có đường kính mặt bàn là 110cm, chiều cao 73cm, bàn đã qua sử dụng, mặt bàn có nhiều vết hằn, trầy xước là tài sản của bà N. Ghi nhận bà N không yêu cầu bồi thường các khoản nào khác.
[6] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên được chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Duy K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.
- Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 01 (một) bàn tròn bằng kim loại, màu trắng có đường kính mặt bàn là 110cm, chiều cao 73cm, bàn đã qua sử dụng, mặt bàn có nhiều vết hằn, trầy xước.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao có tổng chiều dài là 43cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, chiều rộng nơi lớn nhất là 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, trên cán dao có dán giấy ghi chữ “SINH LỢI”, loại dao mũi bằng, phần mũi tiếp giáp lưỡi bị cong.
- (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án thành phố Bến Tre đang quản lý)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đặng Duy K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội chống người thi hành công vụ
