Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01-8-2024

“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Chúc

2. Ông Huỳnh Văn Inh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường- Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, năm sinh 1980.
  • Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh
  • - Bị đơn: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1979.
  • Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Hồ Văn L hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào năm 2004 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 49 ngày 17/6/2004. Trong quá trình chung sống hôn nhân không hạnh phúc, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông L.

  • - Về con chung: Có 01 con chung chưa thành niên là Hồ Quỳnh A, sinh ngày 15/6/2019, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
  • Đối với con chung Hồ Hoàng P ngày 28/11/2004 hiện nay đã trưởng thành, không bị nhược điểm về tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu đặt ra giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
  • - Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hồ Văn L đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự và Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H và ông Hồ Văn L xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại tại tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào năm 2004 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 49 ngày 17/6/2004 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Hồ Văn L là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa bà với ông Hồ Văn L thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân hơn 01 năm nay cho đến nay không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy căn cứ vào lời khai của bà H với việc trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L để hòa giải nhằm làm rõ mâu thuẫn giữa hai bên để tìm giải pháp cho hai bên thỏa thuận, đoàn tụ với nhau nhưng ông L vắng mặt, như vậy chứng tỏ ông L không có ý chí muốn đoàn tụ với bà H. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên đương sự không tạo điều kiện cho nhau để cải thiện quan hệ vợ chồng, khắc phục sai lầm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vậy nên, Hội đồng xét xử nhận thấy sự việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Hồ Văn L đã trở nên trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nhưng không thể hàn gắn tình cảm nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về quyền nuôi dưỡng con chung: Do bà Nguyễn Thị Kim H người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hồ Quỳnh A, sinh ngày 15/6/2019 từ trước đến nay, qua xác minh về nguồn thu nhập và điều kiện chăm sóc trẻ thì bà H đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con chung cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho đương sự biết về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, nhưng đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Đối với con chung Hồ Hoàng P ngày 28/11/2004 hiện nay đã trưởng thành, không bị nhược điểm về tâm thần hay thể chất nên không yêu cầu đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với ông Hồ Văn L.

Về con chung: Giao con chung Hồ Quỳnh A, sinh ngày 15/6/2019 cho bà Nguyễn Thị Kim H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên, ông Hồ Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0002690 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thảo Ngoan

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về xin ly hôn

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger