|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| --------------- | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2025/HSST | --------------- |
| Ngày 31/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Công Lưu – Giáo viên nghỉ hưu
Ông Nguyễn Trần Trường – Cán bộ nghỉ hưu.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Anh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ngô Phương Dung - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 31/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2025/HSST ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 17/12/2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/8/2007 (Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, Thành phố Hà Nội
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1985 và bà Lê Thị T, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất . Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025 đến ngày 14/8/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
-
Dương Thiên T1, sinh năm 2003 (Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã Q, Thành phố Hà Nội
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Văn D, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2. Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025 đến ngày 14/8/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
-
Đặng Sư H, sinh ngày 17/9/2007 (Tên gọi khác: Không)
(Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 10 tháng 19 ngày)
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Đ, Thành phố Hà Nội.
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Đặng Văn H1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ 7. Vợ, con chưa có.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025 đến ngày 14/8/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn H3, sinh ngày 07/11/2008 (Tên gọi khác: Không)
(Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 09 tháng 01 ngày)
Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã Đ, Thành phố Hà Nội;
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2025 (Có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn N1, sinh năm 2000 (Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Đ, Thành phố Hà Nội.
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Phạm Thị Q1, sinh năm 2002, có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam T – Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Đức T2, sinh ngày 22/12/2007 (Tên gọi khác: Không)
(Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 7 tháng 16 ngày)
Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, Thành phố Hà Nội;
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Nguyễn Trung T3, sinh năm 1975 và bà Dương Bích L, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2025 (Có mặt tại phiên tòa).
-
Dương Tuấn H5, sinh ngày 18/12/2007 (Tên gọi khác: Không)
(Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 7 tháng 7 ngày)
Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, Thành phố Hà Nội;
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Dương Văn T4, sinh năm 1981 và bà Ngô Thị T5, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025 đến ngày 14/8/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
-
Nguyễn Thanh T6, sinh ngày 26/10/2007 (Tên gọi khác: Không)
(Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 9 tháng 20 ngày)
Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã Đ, Thành phố Hà Nội;
Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Nguyễn Văn H6, sinh năm 1987 và bà Lê Thị T7, sinh năm 1984; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025 đến ngày 14/8/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ( Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho các bị cáo Đặng Sư H, Nguyễn Thanh T6: Bà Đặng Thị H7 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B số 2. ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T2: Bà Nguyễn Thị T8 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B số 2. ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Tuấn H5: Bà Nguyễn Thị C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B số 2.
Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo:
- + Người đại diện cho bị cáo Đặng Sư H: Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1964 (là bố đẻ của bị cáo).
- + Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Văn H3: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1986 (là bố đẻ của bị cáo).
- + Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Đức T2: Ông Nguyễn Trung T3, sinh năm 1975 (là bố đẻ của bị cáo).
- + Người đại diện cho bị cáo Dương Tuấn H5: Ông Dương Văn T4, sinh năm 1981 (là bố đẻ của bị cáo).
- + Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Thanh T6: Bà Lê Thị T7, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ của bị cáo).
Người đại diện cho các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa
Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã T, tỉnh Bắc Ninh : Bà Dương Thị Q2 – chức vụ Bí thư ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Đức T9, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn M, xã T, Thành phố Hà Nội. ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/8/2025, Nguyễn Minh Q và Nguyễn Văn H8 đang làm việc tại xưởng Công ty C2 thì H8 cầm cốc nước nóng đi qua chỗ Q không may chạm cốc nước nóng vào tay Q. Do trước đó giữa H8 và Q đã có hiềm khích nên Q nghĩ H8 khiêu khích mình và bực tức nói với H8: “Mày lấc cấc vừa thôi, thích thì ra ngoài cổng” (ý là bảo H8 ra đánh nhau. H8 trả lời: “Ok”. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H8 ngồi ăn cơm cùng Đặng Sư H, Nguyễn Quang L1 và kể lại chuyện Q thách thức, hẹn đánh nhau tại cổng công ty. H bảo H8 đưa H đến gặp Q. Hiệp đồng ý và đưa H đến gặp Q. Khi gặp Q, H nói: “Vừa nãy mày hẹn thằng kia ra cổng đánh nhau à? Thích thì 8 giờ ra cổng”. Thấy nhóm H8 đông hơn nên Q bảo H8: “Vừa nãy tao chỉ trêu mày thế thôi”. Sau đó, nhóm của H8 quay về tiếp tục làm việc. Q sau đó gọi điện cho chú họ là Phạm Đức T9 kể về việc bị nhóm của H8 hẹn đánh nhau và nhờ T9 đến đánh giúp nhưng T9 can ngăn không cho Q đánh nhau, hẹn sẽ đến đón Q ở công ty. Q tiếp tục gọi điện cho Dương Thiên T1 (là em vợ của anh T9) kể về việc nhóm của H8 hẹn đánh nhau và nhờ Thiên T1 đến giải quyết mâu thuẫn với nhóm của H8. Thiên T1 đồng ý. Sau đó, T9 rủ Thiên T1 cùng đến đón Q, Thiên T1 đồng ý. T9 điều khiển xe ô tô Mitsubishi màu đen, biển kiểm soát: 30L-634.21 chở Thiên T1 đi đến Công ty C2 đón Q (lúc này trên xe của T9 có 01 gậy bi – a bằng gỗ hình trụ tròn, màu đen xám, dài 75cm dùng để đánh bi-a). Trên đường đi, Q nhắn tin qua ứng dụng messenger hỏi Thiên T1 đến chưa thì Thiên T1 nhắn lại cho Q: “Chuẩn bị đến, chuẩn bị ra xe cầm đồ chiến luôn” (Q hiểu là chuẩn bị ra xe ô tô lấy hung khí để đánh nhau với nhóm của H8) thì Q đồng ý và nhắn lại cho Thiên T1: “Cổng A2 ý chú”. Ngoài ra, Q còn bảo T2 và H5 nhờ giải quyết mâu thuẫn với nhóm của H8 thì T2 và H5 đồng ý. Khi H8, H, L1 quay về tiếp tục làm việc thì H8 gọi điện cho Nguyễn Văn N1 là anh họ cùng làng với H8 nhờ N1 đến đánh Q giúp thì N1 đồng ý.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, H8 cùng H và L1 ra cổng công ty đợi Q. Tại vỉa hè đối diện cổng công ty, H8 gặp Thanh T6, H3 và nói: “Có bọn muốn đánh tao, ở lại xem thế nào” thì Thanh T6 và H3 đồng ý. Cùng lúc này N1 đi đến cổng công ty C2. Khi thấy Q cùng H5 và T2 đi từ trong công ty ra thì H8, H, Thanh T6, H3 và L1 đi ra chỗ nhóm của Q. Huynh hỏi Q: “Thế giờ như nào”. T2 ngồi trên xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29T1-061.74 của H5 chửi Huynh: “Đm mày, chúng mày thích sang đất bên này oai không, thích thì xuống Đông A đánh nhau với bọn bố”. Lúc này, H3 lao đến dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt của T2 còn H8, H, Thanh T6 và L1 vẫy tay khiêu khích, thách thức, chửi bới, gạ nhóm của Q và T2 đánh nhau. Sau đó H3 tiếp tục dùng tay phải đấm vào mặt Q 01 phát thì H8, H và Thanh T6 cùng lao vào dùng chân tay đấm, đá Q và T2. Q ôm đầu đỡ còn T2 và H5 dùng chân tay đấm, đá lại nhóm của H8. Khi hai bên đang đánh nhau thì T9 điều khiển xe ô tô chở Thiên T1 đi đến cổng công ty C2. Thiên Tùng xuống xe cầm chuôi gậy bi – a trên xe của T9 bằng tay phải lao vào đập 02 phát vào lưng Thanh T6 (T2, H5, Thanh T6 không biết Thiên T1 mang gậy bi a đi đánh nhau). Thấy vậy, H rút gậy ba khúc cất ở trong người ra cầm ở tay phải lao đến vụt T2 01 phát vào người (T2, H5, Thanh T6 không biết H mang gậy ba khúc đi đánh nhau). N1 ở phía bên kia đường chạy đến dùng tay phải giằng gậy ba khúc của H sau đó chỉ gậy ba khúc vào mặt Thiên T1 nói: “Đm mày thích đánh em tao không” rồi N1 đưa lại gậy ba khúc cho H. Lúc này, T9 xuống xe ô tô chạy đến can ngăn và nói với nhóm của Q và H8: “Thôi cho anh xin” thì hai bên dừng lại. H3 quay lại giằng gậy ba khúc của H bằng tay phải rồi lao đến vụt T2 02 phát vào người còn N1 tiếp tục lao vào dùng tay phải đấm T2. Lúc này, một số bảo vệ của công ty C2 ra can ngăn thì hai bên không đánh nhau nữa và đi về. Sau đó T2 và H3 phải điều trị ở Bệnh viện Đ và Bệnh viện Đ1.
Ngày 07/8/2025, Nguyễn Đức T2 có đơn trình báo gửi Công an xã T về nội dung sự việc trên và đề nghị xử lý các đối tượng gây thương tích.
Việc Thiên T1, Q, H, H5, Thanh T6, T2, H3 và N1 thực hiện hành vi đánh, chửi nhau tại khu vực đường trước cổng Công ty C2 đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn giao thông trên địa bàn xã T. Ngày 07/8/2025 và 08/8/2025 Công ty C2, Ủy ban nhân dân xã T đã có công văn đề nghị xử lý các đối tượng trên.
Quá trình điều tra, T2 không yêu cầu xử lý đối với các đối tượng đã gây thương tích cho T2. Ngày 09/8/2025 ông Nguyễn Trung T3 (là bố đẻ của T2) có đơn xin rút yêu cầu xử lý các đối tượng đã gây thương tích cho T2.
Nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, vào các ngày 08/8/2025 và 18/9/2025, Dương Thiên T1, Nguyễn Minh Q, Đặng Sư H, Dương Tuấn H5, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Văn H3 đã đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
* Vật chứng thu giữ:
- + Thiên Tùng tự nguyện giao nộp 01 đoạn chuôi gậy bi-a bằng gỗ hình trụ tròn, màu đen xám dài 75cm;
- + Q tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động I Phone 14 Promax màu vàng có số Imei: 354615752223625 của Q.
* Về trách nhiệm dân sự:
Các bị cáo Dương Thiên T1, Nguyễn Minh Q, Đặng Sư H, Dương Tuấn H5, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Văn N1 đã tự thỏa thuận và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 48/CT-VKS KV7 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T2, Dương Tuấn H5 và Nguyễn Thanh T6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Dương Thiên T1, Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Văn N1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra và truy tố vụ án, các bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi hay quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh đã truy tố và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Dương Thiên T1, Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Đức T2, Dương Tuấn H5 và Nguyễn Thanh T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Minh Q, Dương Thiên T1 mỗi bị cáo từ 26 đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 đến 56 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Nguyễn Văn N1 từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo N1 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 115, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3 mỗi bị cáo từ 14 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 115, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt Nguyễn Đức T2, Dương Tuấn H5, Nguyễn Thanh T6 mỗi bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn chuôi gậy bi-a bằng gỗ hình trụ tròn, màu đen xám dài 75cm;
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động I Phone 14 Promax màu vàng có số Imei: 354615752223625 thu giữ của Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 08 đĩa DVD hỏi cung bị can và 01 đĩa DVD ghi hình tại hiện trường vụ gây rối trật tự công cộng.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bà Đặng Thị H7 trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đặng Sư H, Nguyễn Thanh T6 gửi bài bào chữa trình bày:
Về tội danh: Nhất trí với cáo trạng đã truy tố.
Về nhân thân: Huynh và T6 có nhân thân tốt, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan công an đầu thú. Bị cáo Nguyễn Thanh T6 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ( đối với H) và khoản 1 Điều 318, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ( đối với T6); Điều 12, Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H, bị cáo Thanh T6 đồng ý với lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
Bà Nguyễn Thị T8 trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T2 gửi bài bào chữa trình bày:
Về tội danh: Nhất trí với cáo trạng đã truy tố.
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi đang ở độ tuổi thích thể hiện bản thân, nhận thức pháp luật còn hạn chế và đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan công an đầu thú. Bị cáo Nguyễn Đức T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ( đối với H3) và khoản 1 Điều 318, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ( đối với T2); Áp dụng các quy định cho người phạm tội quy định tại chương VI Luật tư pháp người chưa thành niên để tuyên phạt các bị cáo mức án thấp nhất và cho hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H3, bị cáo T2 đồng ý với lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo tiếp tục được học tập, rèn luyện bản thân.
Bà Nguyễn Thị C trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Dương Tuấn H5 trình bày bài bào chữa:
Về tội danh: Nhất trí với cáo trạng đã truy tố.
Về nhân thân: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do vậy, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H5 đồng ý với lời bào chữa và đề nghị HĐXX xét xử cho bị cáo được hưởng mức án treo để bị cáo tiếp tục theo học và tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về phần thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập chứng cứ, ban hành các quyết định là khách quan, toàn diện và đầy đủ. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người đại diện hợp pháp không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu có trong hồ sơ, đã có đủ căn cứ xác định:
Do Nguyễn Minh Q và Nguyễn Văn H8 (sinh ngày 08/8/2010) có mâu thuẫn với nhau trong khi làm việc tại Công ty C2 thuộc Khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/8/2025 Q hẹn H8 đánh nhau, giải quyết mâu thuẫn tại đường trước cổng Công ty C2. Q rủ Dương Thiên T1, Nguyễn Đức T2 và Dương Tuấn H5 đến để đánh nhau, khi Thiên T1 bảo mang đồ (hung khí) đến để đánh nhau thì Q đồng ý. H8 rủ Đặng Sư H, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Quang L1 (sinh ngày 22/5/2011) đến để đánh nhau. T2, H5, H8, Thanh T6 dùng chân tay để đánh nhau còn Thiên T1 dùng hung khí là chuôi gậy bi – a bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám đen, dài 75 cm đánh Thanh T6 (T2, H5, Thanh T6 không biết H, Thiên T1 có hung khí khi đến đánh nhau). Huynh, H3 dùng gậy ba khúc nhiều màu của H để đánh T2. N1 giằng gậy ba khúc của H cầm và đe dọa đánh T2. Sau đó, N1 dùng tay không đánh T2. Các đối tượng vừa đuổi đánh nhau vừa chửi bới to tiếng đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày được bảo vệ công ty C3 nên dừng lại. Hành vi trên của Thiên T1, Q, H, H3, N1, H5, Thanh T6 và T2 trước khu vực cổng Công ty C2 đã gây mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Dương Thiên T1, Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T2, Dương Tuấn H5 và Nguyễn Thanh T6 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo theo điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất của vụ án: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, đe dọa sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân, vai trò các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về vai trò các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng vai trò, tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo là khác nhau. Bị cáo Nguyễn Minh Q là người khởi phát mâu thuẫn, chủ động hẹn đánh nhau và rủ rê nhiều người khác tham gia, biết được Thiên T1 mang theo hung khí nhưng vẫn đồng ý mặc dù không đánh ai. Các bị cáo Thiên T1, H và H3 có hành vi trực tiếp sử dụng hung khí để đánh người khác, gây rối cụ thể T1 dùng gậy bi-a; H mang theo và sử dụng gậy ba khúc; H3 ra tay đánh trước và giằng gậy ba khúc của H để đánh người khác. N1 không trực tiếp dùng hung khí đánh người nhưng sử dụng gậy ba khúc để đe dọa người khác và đánh người bằng tay. Các bị cáo Thanh T6, T2, H5 chỉ tham gia đánh nhau bằng tay không có hành vi chuẩn bị, không sử dụng và cũng không biết trước việc sử dụng hung khí. Do vậy, Q có vai trò khởi xướng; các bị cáo Thiên T1, H, H3 là người thực hành tích cực; bị cáo N1 đồng phạm tích cực; các bị cáo Thanh T6, T2, H5 giữ vai trò thứ yếu.
Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cả 08 bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo T2, H5 và Thanh T6 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội các bị cáo Q, Thiên T1, H, H3, H5 và Thanh T6 đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú. Bị cáo N1 có ông nội là ông Nguyễn Văn B1 được nhà nước tặng thưởng Huân chướng kháng chiến hạng ba; bị cáo Dương Thiên T1 có ông bà nội là Dương Văn D1 và bà Nguyễn Thị C1 được nhà tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và hạng ba; bị cáo H5 có ông nội là ông Dương Văn H9 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo T2 có ông nội là Nguyễn Giản V được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo H có bố đẻ có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “ Cựu chiến binh gương mẫu” nhiều năm liền được tặng Giấy khen; bị cáo Q có cụ nội là Nguyễn Trọng H10 được Chủ tịch UBND thành phố H tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, cả 08 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo H, H3, T2, H5 và Thanh T6 đều trên 16 tuổi và dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Điều 12 Chương I và Chương VI Luật tư pháp người chưa thành niên để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng do vậy không cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục.
[5] Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chuôi gậy bi – a bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám đen, dài 75 cm của Phạm Đức T9 nhưng Thiên T1 sử dụng làm hung khí đánh người khác, T9 không có yêu cầu gì nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động I Phone 14 Pro màu vàng, số IMEI 354615752223625 thu giữ của Q. Q sử dụng để liên lạc rủ các bị cáo Thiên T1, T2 đến đánh nhau nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 gậy rút ba khúc nhiều màu của H sau khi dùng để đánh nhau, trên đường về nhà H đã vứt ở sông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Dương Thiên T1, Nguyễn Minh Q, Đặng Sư H, Dương Tuấn H5, Nguyễn Thanh T6, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Văn N1 đã tự thỏa thuận và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Liên quan trong vụ án:
Đối với Nguyễn Văn H8 và Nguyễn Quang L1 có hành vi dùng chân tay đánh nhau gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên các đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi. Phòng C4 Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính “cảnh cáo” là phù hợp.
Đối với Phạm Đức T9 có hành vi điều khiển xe ô tô chở Dương Thiên T1 đến chỗ nhóm của Q và H8 đánh nhau, bản thân T9 đã can ngăn nhóm của Q và H8 không đánh nhau, T9 không biết Thiên T1 sẽ sử dụng gậy bi a của T9 để đánh nhau. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại của Thiên T1 sử dụng để nhắn tin với Q, điện thoại của H8 và N1 dùng để gọi điện cho nhau, sau khi sự việc xảy ra đã bị rơi mất không rõ ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để truy tìm và thu giữ.
Đối với 08 đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị caó và 01 đĩa DVD ghi hình tại hiện trường vụ gây rối trật tự công cộng đã được cơ quan điều tra lưu giữ trong hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.
[8] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Dương Thiên T1, Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Đức T2, Dương Tuấn H5 và Nguyễn Thanh T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Về hình phạt:
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt Nguyễn Minh Q 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Dương Thiên T1 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Văn N1 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 115, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
- + Xử phạt Đặng Sư H 14 ( Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Văn H3 14 ( Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 115, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
- + Xử phạt Nguyễn Đức T2 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Dương Tuấn H5 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Thanh T6 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn N1 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn chuôi gậy bi-a bằng gỗ hình trụ tròn, màu đen xám dài 75cm;
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động I Phone 14 Promax màu vàng có số Imei: 354615752223625 thu giữ của Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
-
Án phí và quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp, người bào chữa cho các bị cáo dưới 18 tuổi có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
Giao các bị cáo Nguyễn Minh Q, Dương Tuấn H5 và Nguyễn Đức T2 cho UBND xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo cho Đặng Sư H, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Thanh T6 cho UBND xã Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Dương Thiên T1 cho UBND xã Q, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 67/2025/HSST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 67/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ
