Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày: 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh An.

Ông Đặng Văn Vững.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Hoàng E, sinh ngày: 20/10/1997.

Nơi thường trú: ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn C và bà Trần Thị L; Bản thân có vợ tên Đặng Thị Thanh T, có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án - tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1/ Hồ Thị T1, sinh năm: 1970 (có mặt). Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

2/ Phạm Văn Q, sinh năm: 1966 (có mặt). Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Trần Thị L, sinh năm: 1976 (có mặt). Cư trú: ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

2/ Đặng Thị Thanh T, sinh năm: 1998 (vắng mặt). Cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 12/4/2024, Võ Hoàng E điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đen, biển số 62M1-186.97 (xe do bà Trần Thị L, mẹ bị cáo đứng tên) đi từ nhà vợ thuộc Ấp C, xã P, huyện C về nhà thuộc ấp Đ, xã P, huyện C. Trên đường đi Hoàng E nảy sinh ý định tìm tài sản là dây chuyền của người đi đường để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang điều khiển xe trên đường T hướng từ ngã ba chợ T2 về Cảng T thuộc ấp T, xã T, huyện C thì Hoàng E nhìn thấy bà Hồ Thị T1 đi bộ theo chiều ngược lại, trên cổ bà T1 có đeo 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24k (kiểu dây mắt xích, trọng lượng 05 chỉ, có mặt dây chuyền vàng 24k hình bông mai trọng lượng 01 chỉ, tổng trọng lượng 06 chỉ), Hoàng E điều khiển xe quay lại chạy theo ép sát bên tay phải bà T1, rồi dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền vàng trên cổ bà T1, làm sợi dây chuyền vàng bị đứt, Hoàng E giật được một đoạn dây chuyền vàng có chiều dài khoảng 30cm, không có mặt dây chuyền, còn đoạn dây chuyền vàng bị đứt bà Thu G lại được (không có mặt dây chuyền) có trọng lượng 01 chỉ 7 phân. Sau khi giật được đoạn dây chuyền vàng, Hoàng E tăng ga điều khiển xe bỏ chạy trên đường T hướng về xã Đ, huyện C. Trên đường đi đến ấp T, xã T, huyện C, H thấy đoạn dây chuyền giật được giống vàng giả nên Hoàng E vứt bỏ xuống lề đường Tỉnh 830 rồi điều khiển xe mô tô biển số 62M1-186.97 chạy đến xã L, huyện N, Tp . để chơi. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Hoàng E tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 62M1-186.97 chạy về nhà, khi đến trạm bơm nước trên đường T thuộc ấp T, xã T, huyện C thì nhìn thấy ông Phạm Văn Q trên cổ có đeo dây chuyền đi lấy nước nên Hoàng E nảy sinh ý định giật tài sản, Hoàng E ghé vào giả vờ hỏi thăm còn nước không rồi ra ngoài lên xe mô tô ngồi đợi. Ông Q sau khi lấy nước xong thì chở 03 (ba) can nước về hướng ngã ba đường Đ, Hoàng E điều khiển xe chạy theo phía sau được khoảng 500m, Hoàng E cho xe chạy vượt lên bên phải, dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền vàng 24k, (kiểu dây mắt xích, trọng lượng 10 chỉ) trên cổ ông Q làm sợi dây chuyền vàng bị đứt, Hoàng E giật được một đoạn dây chuyền vàng có chiều dài khoảng 20cm, đoạn dây chuyền vàng bị đứt ông Q còn giữ lại có trọng lượng 6 chỉ 6 phân. Sau khi giật được đoạn dây chuyền vàng, Hoàng E quay đầu xe mô tô, tăng ga bỏ chạy ra hướng đường Tỉnh lộ 830 rồi chạy xe đến tiệm V, địa chỉ A N, Ấp C, xã H, huyện N, Tp. do Lê Hoàng  làm chủ, bán đoạn dây chuyền vàng giật được với số tiền 22.862.000đ (hai mươi hai triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Sau đó, Hoàng E đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.862.000₫ (hai triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn đồng), còn lại số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) Hoàng E đưa cho vợ Đặng Thị Thanh T cất giữ. Ngày 14/4/2024, Hoàng E đến Công an xã T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá số 21/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận sợi dây chuyền của bà T1 bị cướp giật: 01 (một) đoạn dây chuyền vàng 24k, loại dây mắt xích, trọng lượng 01 chỉ 7 phân trị giá 12.410.000đ (mười hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng); 01 (một) đoạn dây chuyền vàng 24k, loại dây mắt xích, trọng lượng 03 chỉ 3 phân và 01 (một) mặt dây chuyền vàng 24k hình bông mai, trọng lượng 01 chỉ trị giá 31.390.000đ (ba mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi ngàn đồng). Tổng cộng 43.800.000đ (bốn mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng).

Tại Bản kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận sợi dây chuyền của ông Q bị cướp giật: 01 (một) đoạn dây chuyền vàng 24k, loại dây mắt xích, trọng lượng 06 chỉ 06 phân trị giá 48.180.000đ (bốn mươi tám triệu một trăm tám mươi ngàn đồng); 01 (một) đoạn dây chuyền vàng 24k, loại dây mắt xích, trọng lượng 03 chỉ 4 phân trị giá 24.820.000₫ (hai mươi bốn triệu tám trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng cộng 73.000.000đ (bảy mươi ba triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKSCG ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo Võ Hoàng E về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Võ Hoàng E từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Thu nhận số tiền 31.390.000 đồng do bà Trần Thị L (mẹ bị cáo) bồi thường và bị hại Phạm Văn Q đã nhận số tiền 24.820.000 đồng do bà Trần Thị L bồi thường 4.820.000 đồng và chị Đặng Thị Thanh T giao nộp 20.000.000 đồng, hiện không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ và hoàn trả: cho bà Trần Thị L (mẹ bị cáo) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 62M1-186.97, do bà L là chủ sở hữu cho bị cáo mượn, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà T1 không biết; hoàn trả cho bị cáo 01 (một) áo thun có cổ áo màu xám có đường hoa trước ngực; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh là vật dụng cá nhân bị cáo, là phù hợp.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận. Hai bị hại xin giảm nhẹ hình phát cho bị cáo

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 5 giờ 00 phút, ngày 12/4/2024, do cần tiền tiêu xài nên bị cáo E đã điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 62M1-186.97 chạy trên đường T giật của bà Hồ Thị T1 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24k, kiểu mắc dây xích, trọng lượng 05 chỉ và mặt dây chuyền hình bông mai vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ. Đến khoảng 16 giờ 00 phút, cùng ngày 12/4/2024 bị cáo E tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 62M1-186.97 chạy trên đường T giật của ông Phạm Văn Q 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24k, kiểu mắc dây xích, trọng lượng 01 lượng. Hành vi trên của bị cáo E đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.

[3] Theo kết luận định giá tài sản thì giá trị tài sản bị cáo E chiếm đoạt của bị hại T1 trị giá 43.800.000 đồng và giá trị tài sản bị cáo E chiếm đoạt của bị hại Q là 73.000.000 đồng, nên hành vi phạm tội của bị cáo E thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo E sử dụng xe mô tô và thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại, rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát khi bị hại T1 đang đi bộ trên đường và bị hại Q đang điều khiển xe mô tô có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại và những người tham gia giao thông trên đường, nên hành vi phạm tội của bị cáo E thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nên “Phạm tội hai lần trở lên” là tình tiết tăng nặng theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đến cơ quan công an đầu thú khai nhận các lần phạm tội và có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính nuôi con còn nhỏ, tại phiên tòa hai bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[8] Đối với chị Đặng Thị Thanh T có cất giữ số tiền 20.000.000đ (hai chục triệu đồng) nhưng chị T không biết đây là tài sản do bị cáo E phạm tội mà có, nên không có cơ sở để xử lý. Đối với Lê Hoàng Â, là chủ tiệm vàng Ngọc Kim H, theo bị cáo E khai là có bán sơi dây chuyền bị đứt, nhưng ông  không xác định được có thu mua sợi dây chuyền do bị cáo E bán hay không, do lượng khách hàng ngày giao dịch đông và không có sổ ghi chép loại giao dịch mua vào, nên không có cơ sở để xử lý.

[9] Về tang vật thu giữ: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 62M1-186.97, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà Trần Thị L (mẹ bị cáo) do bà L là chủ sở hữu cho bị cáo mượn sử dụng, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà L không biết; Đối với 01 (một) áo thun có cổ áo màu xám có đường hoa trước ngực; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh là vật dụng cá nhân bị cáo, không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn cho bị cáo. Là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

[10] Trách nhiệm dân sự: bị hại Hồ Thị T1 đã nhận số tiền 31.390.000 đồng do bà Trần Thị L (mẹ bị cáo) bồi thường, tại phiên tòa, không yêu cầu, bị hại Phạm Văn Q đã nhận số tiền 4.820.000 đồng do bà Trần Thị L bồi thường và số tiền 20.000.000 đồng do chị Đặng Thị Thanh T (vợ bị cáo) giao nộp, tại phiên tòa không yêu cầu, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị L, tại phiên tòa không yêu cầu gì về số tiền đã bồi thường cho hai bị hại, nên không xem xét.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng E phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Võ Hoàng E 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (30/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng E phạm tội "Cướp giất tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger