Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8-HÀ NỘI

*******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HSST

Ngày: 10/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Diệu Kim

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang, bà Nguyễn Thị Thêm

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Luyên – Thư ký TAND khu vực 8-Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-Hà Nội gia phiên toà: Bà Cao Thị Thúy- Kiểm sát viên

Trong các ngày 5,10 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8-Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66 /2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình K

- sinh năm 1999; giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: thôn A, xã A, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình D và bà Nguyễn Thị H; Có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2023, con nhỏ nhất sinh năm 2024.

- Tiền án, tiền sự : không.

Bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Người bị hại: Anh Trần Quốc K1, sinh năm 1999

ĐKTT tại: xóm A, T, xã X, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Đình K đã lập một tài khoản facebook ảo tên “Quỳnh Diệp” và để ảnh đại diện của một người con gái (K lấy từ trên trang google về, không biết nhân thân lai lịch của người này) để đăng bài viết tìm kiếm những người có nhu cầu vay tiền và hưởng 10% tiền hoa hồng trên tổng số tiền khách vay thành công.

Ngày 17/4/2025, sau khi K nhận được tin nhắn của cộng tác viên (K không biết nhân thân lai lịch) về việc anh Trần Quốc K1 có nhu cầu vay số tiền khoảng 30.000.000 đồng nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền vay được của anh K1. Lúc này, K bảo cộng tác viên gửi ảnh CCCD của anh K1. Sau đó, K kiểm tra thông tin của anh K1 trên hệ thống ngân hàng không có nợ xấu nên K trả lời cộng tác viên là anh K1 có thể vay tín chấp và gửi vị trí quán café AMI có địa chỉ tại A, Khu A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là A, Khu A, phường T, thành phố Hà Nội) để gặp K. Đến khoảng 10 giờ ngày 18/4/2025, anh K1 đi đến quán café theo vị trí đã gửi trước đó. Khoảng 10 phút sau, K đến gặp anh K1. Sau đó, K có gọi cho anh Dương Anh T (sinh năm: 2003; trú tại: thôn H, xã H, tỉnh Bắc Ninh – là người cùng làm công việc hỗ trợ vay tiền ở các ngân hàng) đến quán café để cùng hỗ trợ anh K1 làm thủ tục vay tiền. Tại quán C, lợi dụng sự tin tưởng của anh K1, K cầm điện thoại, CCCD của anh K1 để thực hiện các thao tác làm hồ sơ vay tiền online. K tải app C1 của ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) và điền các thông tin cá nhân của anh K1 vào ứng dựng trên, quét sinh trắc học khuôn mặt anh K1 để hoàn thiện các bước xác minh tài khoản. Sau đó, K bấm vào mục “Vay nhanh” và điền các thông tin cá nhân của anh K1 để mở khoản vay, K chọn hạn mức vay số tiền là 30.000.000 đồng thì phải quét khuôn mặt anh K1 một lần nữa để xác nhận khoản vay rồi gửi đi chờ phê duyệt và khoảng 5 phút sau thì ứng dụng C1 của ngân hàng V1 tự động chuyển số tiền 10.000.000 đồng về tài khoản trên điện thoại của anh K1 do K thực hiện trước đó. Tuy nhiên, K không thông báo cho anh K1 biết đã thực hiện thành công việc vay tiền nhằm chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng trên.

Khoảng 15 phút sau, anh Dương Anh T đến quán café, K đưa lại CCCD, điện thoại của anh K1 để T thao tác mở khoản vay ở các ngân hàng khác nhau và K nói dối T về việc K vừa thao tác vay qua ứng dụng CAKEBANK của ngân hàng V1 nhưng không vay được và bảo T thực hiện khoản vay trên các ngân hàng khác. Trong khi T thao tác mở các khoản vay, K gọi điện cho anh Bùi Bá T1 (sinh năm: 1999, trú tại: Thôn A, xã A, thành phố Hà Nội - là bạn của K) nhờ anh T1 đổi tiền tài khoản và anh T1 đồng ý. Sau đó, K bảo anh T đưa máy điện thoại của anh K1 cho K rồi K sử dụng điện thoại của anh K1 chuyển tiền cho anh T1 số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản số 19035867963013 tại ngân hàng T2 của anh T1. Tiếp đó, K nói với anh K1 và anh T: “Ở lại làm nhé, tôi có việc đi về trước” rồi K đi về nhà của anh T1 lấy số tiền mặt 10.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được của anh K1, K đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 19/5/2025 anh K1 nhận được thông báo từ ngân hàng V1 có khoản vay cần thanh toán, khoản vay này phát sinh từ ngày 18/4/2025 với số tiền 10.000.000 đồng, tiền lãi hàng tháng 845.229 đồng. Khi thấy khoản vay trên, anh K1 đã kiểm tra lịch sử chuyển tiền qua tài khoản thì thấy ngày 18/4/2025, từ tài khoản ngân hàng của anh K1 có chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số 19035867963013 mang tên BUI BA TUYEN. Sau đó, thông qua mạng xã hội, anh K1 tìm được thông tin của K và đến nhà của K ở xóm N, thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xóm N, thôn A, xã A, thành phố Hà Nội) để nói chuyện nhưng K không thừa nhận việc đã dùng điện thoại của anh K1 để chuyển tiền cho anh T1 (quá trình điều tra, K đã thừa nhận hành vi trên).

- Kết quả tra cứu sao kê tài khoản tại ngân hàng V1, số tài khoản 0962788421 của anh Trần Quốc K1 xác định: Ngày 18/4/2025, anh Trần Quốc K1 vay thành công số tiền 10.000.000 đồng theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng vay ngày 18/4/2025. Cùng ngày, tài khoản trên của anh K1 có chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T2 số 19305867963013 mang tên BUI BA TUYEN.

- Kết quả tra cứu sao kê tài khoản ngân hàng T2 số 19305867963013 mang tên BUI BA TUYEN xác định chủ tài khoản là anh Bùi Bá T1 (sinh năm: 1999; NCT: Thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội). Ngày 18/4/2025, tài khoản trên của anh T1 nhận được số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số 0962788421 ghi nội dung "ck".

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/9/2025, Nguyễn Đình K đã tất toán khoản vay số tiền 10.000.000 đồng trên ứng dụng C1 của ngân hàng V1 mà K đã chiếm đoạt của anh Trần Quốc K1. Anh K1 không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 56/CT – VKSKV8 ngày 15 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 truy tố Nguyễn Đình K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố. Đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS.

- Xử phạt Nguyễn Đình K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

* Vật chứng vụ án; trách nhiệm dân sự: không

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]- Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định:

Lợi dụng sự tin tưởng và không hiểu rõ quy trình vay tiền nên Nguyễn Đình K đã có thủ đoạn sử dụng điện thoại, căn cước công dân của anh Trần Quốc K1 để tải app C1 của Ngân hàng V1 để tạo hợp đồng vay và vay được số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi khoản vay được giải ngân vào tài khoản của anh K1, K đã tiếp tục sử dụng điện thoại của anh K1 để chuyển toàn bộ số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T2 số19305867963013 của Bùi Bá T1 mà không thông báo cho K1 việc vay tiền thành công và đã chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng của anh K1.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình K đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại và lợi dụng sự tin tưởng của người bị hại để chiếm đoạt tiền tiêu sài cá nhân hết. Do vậy cần xét xử nghiêm trước pháp luật, nhằm giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp Giấy chứng nhận phẫu thuật của bệnh viện Đ đã mổ cắt toàn bộ đại tràng, ứ nước thận, sa lồi hậu môn nhân tạo, lao ruột, lao cột sống. HĐXX xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân nhiều bệnh đang phải điều trị nên để thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật không buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện VKS cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo sau này.

Xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[3] - Đối với anh Dương Anh T: Ngày 18/4/2025, anh T được Nguyễn Đình K gọi đến để cùng K hỗ trợ anh K1 vay tiền ngân hàng. Anh T không biết việc K đã thực hiện vay thành công số tiền 10.000.000 đồng từ ứng dụng ngân hàng V1, không biết việc K đã chiếm đoạt số tiền trên. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Dương Anh T với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

- Đối với anh Bùi Bá T1: Ngày 18/4/2025, anh T1 được K gọi điện nhờ đổi số tiền 10.000.000 đồng tiền tài khoản sang tiền mặt. Anh T1 không biết nguồn tiền trên do K thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Bùi Bá T1 là có căn cứ.

[4]- Về vật chứng vụ án: không

[5]- Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quốc K1 đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.

[6]- Án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Đình K 09 ( chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình K cho UBND xã A, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Trách nhiệm dân sự: không

* Vật chứng: không

* Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

* Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BLTTHS.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND KV8-HN;
  • - Công an TPHN;
  • - Phòng THADS TPHN;
  • - Bị cáo, Bị hại
  • - UBND xã
  • - Lưu hs, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Diệu Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HSST ngày 10/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 67/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger