Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨ THƯ

TỈNH THÁI BÌNH


Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày 27 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hiển và ông Đoàn Minh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 06 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 06 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Xuân B, sinh ngày 05/10/1986 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Nguyên C và bà Trần Thị N, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 10/2007, tham gia Đoàn N1 – Bộ T4, đến tháng 01 năm 2010 xuất ngũ về địa phương. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9812/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, chấp hành xong ngày 14/01/2019. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Văn T, sinh ngày: 08/5/1981 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Đ và bà Phạm Thị H, gia đình có 02 chị em, bị cáo con thứ hai, có vợ là Lê Anh Đ1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

3.Trần Cao B1, sinh ngày 19/8/1984 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân B2 và bà Trần Thị L, gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

4. Nguyễn Đức T1, sinh ngày 18/02/1989 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân C1 và bà Nguyễn Thị T2, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị T3 và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

5. Trần Văn V, sinh ngày 11/4/1996 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trần Thị V1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Trần Thị Thanh D (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

6. Trần Việt A, sinh ngày 15/10/1993 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng H1 và bà Trần Thị P (đều đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/3/2025, sau khi đi uống bia, Trần Cao B1, Trần Văn V, Trần Việt A, Nguyễn Đức T1 và Trần Xuân B đến nhà trông trang trại của Trần Văn T tại thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình uống nước. Một lúc sau, thấy có bộ bài tú lơ khơ để sẵn ở trên bàn trong góc nhà (bộ bài mà các con của T hay chơi) nên B1, V, Việt A, T1, B, T cùng rủ nhau dùng bộ bài này ngồi tại chiếu cói màu nâu đã trải sẵn tại đây để đánh bạc dưới hình thức ba cây, sát phạt nhau bằng tiền. Mọi người thống nhất luật chơi như sau: bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài gồm các quân bài từ A,1,2,3,4,5,6,7,8,9. Khi chơi người cầm chương chia lần lượt cho mỗi người chơi ba quân bài và cộng điểm lại so với điểm của người cầm chương, người thắng là người có số điểm cao hơn số điểm của người cầm chương (tính từ 10, 9, 8...) thì được người cầm chương trả cho số tiền mà người chơi đã đặt cược, người thua là người có số điểm thấp hơn số điểm của người cầm chương thì người cầm chương được hưởng số tiền mà họ đặt cược; đặt cược là 50.000 đồng/lần. Nếu người nào được 10 điểm thì người thua phải trả cho người thắng số tiền gấp đôi số tiền họ đã đặt cược, nếu ai được sáp (A A A1; 2 2 2; 3 3 3; ...; 9 9 9) thì người thua phải trả cho người thắng số tiền gấp 3 lần số tiền họ đã đặt cược. Nếu ai được liêng (A 1 2; 2 3 4; 3 4 5; ...; 7 8 9) cùng chất thì người thua phải trả cho người thắng số tiền gấp 4 lần số tiền họ đã đặt cược và sẽ cầm chương ván tiếp theo. 06 người cùng đánh bạc đến khoảng 21 giờ 25 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Phòng C2 Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ, quản lý tại chiếu bạc số tiền 14.500.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân và 01 chiếu cói màu nâu. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận tổng số tiền dùng để đánh bạc là 14.500.000 đồng. Trong đó: Trần Xuân B mang theo 4.500.000 đồng, Trần Văn T mang theo 2.500.000 đồng, Trần Cao B1 mang theo 2.500.000 đồng, Nguyễn Đức T1 mang theo 2.400.000 đồng, Trần Văn V mang theo 1.500.000 đồng và Trần Việt A mang theo 1.100.000 đồng dùng để đánh bạc và đều để tiền tại chỗ ngồi của mình, chơi nhiều ván, không rõ thắng thua, khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, tiền đánh bạc để tại khu vực đánh bạc đã bị thu giữ hết. Quá trình đánh bạc, không có ai canh coi cảnh giới, không có ai đứng ra thu tiền hồ hay cho vay, cầm cố tài sản.

Kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 21/3/2025 của Phòng C2 Công an tỉnh T xác định: 95 (chín mươi lăm) tờ tiền cần giám định là tiền thật.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKSVT ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Nguyễn Đức T1, Trần Văn V và Trần Việt A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận thực hiện hành vi như nội dung đã nêu ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Nguyễn Đức T1, Trần Văn V và Trần Việt A phạm tội “Đánh bạc”.

* Về hình phạt:

+ Đối với bị cáo Trần Xuân B: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 12 triệu đồng đến 15 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

+ Đối với bị cáo Trần Văn T: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

+ Đối với bị cáo Trần Cao B1: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

+ Đối với bị cáo Nguyễn Đức T1: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

+ Đối với bị cáo Trần Văn V: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 08 triệu đồng đến 10 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

+ Đối với bị cáo Trần Việt A: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50; Điều 65, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 08 triệu đồng đến 10 triệu đồng để sung Ngân sách nhà nước.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sung Ngân sách Nhà nước số tiền 14.500.000 đồng; Tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân và 01 chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng.

*Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố đã nêu phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản xác định hiện trường; Kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 21/3/2025 của Phòng C2 Công an tỉnh T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 25 phút ngày 07/3/2025, tại nhà trông coi trang trại của Trần Văn T ở thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Nguyễn Đức T1, Trần Văn V và Trần Việt A sử dụng bộ bài tú lơ khơ 36 quân, đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh ba cây, đã bị tổ công tác Phòng C2 Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 14.500.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Xuân B có thời gian tham gia quân đội và có bố đẻ là người có công với cách mạng; bị cáo Trần Cao B1 có bố đẻ là người có công với cách mạng; bị cáo Trần Việt A có ông nội là người có công với cách mạng nên bị cáo B, B1 và Việt A được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nảy sinh ý định phạm tội và đều trực tiếp tham gia đánh bạc. Trong đó bị cáo Trần Xuân B đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án; bị cáo Trần Văn T, Trần Cao B1 và Nguyễn Đức T1 đánh bạc với số tiền tương đương nhau và ít hơn bị cáo B nên cùng giữ vai trò thứ hai trong vụ án, tuy nhiên bị cáo T là chủ nhà nên cần xử phạt mức án cao hơn. Các bị cáo Trần Văn V và Trần Việt A đánh bạc với số tiền ít nhất nên giữ vai trò cuối cùng trong vụ án.

[5] Về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt :

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, là mầm mống làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác trong xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng. Trong số 06 bị cáo, bị cáo B mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc năm 2018 nhưng đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo cũng từng có thời gian cống hiến cho quân đội, có bố đẻ là người có công với cách mạng. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trong đó bị cáo B1 và Việt A có thân nhân là người có công với cách mạng. Ngoài lần phạm tội này, các bị cáo đều chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, cả 06 bị cáo đều đủ điều kiện để có thể được xem xét cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy việc cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo, động viên các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 06 bị cáo. Trong đó, bị cáo B là người có số tiền đánh bạc nhiều nhất nên bị cáo B bị áp dụng hình phạt bổ sung số tiền cao hơn các bị cáo còn lại.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự : Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân và 01chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng, các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 14.500.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần sung vào Ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Nguyễn Đức T1, Trần Văn V và Trần Việt A phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân B mức án 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03(ba) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo B số tiền 12 (mười hai) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03(ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo T số tiền 10 (mười) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Cao B1 mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo B1 số tiền 10 (mười) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo T1 số tiền 10 (mười) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 65, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V mức án 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo V số tiền 08 (tám) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50; Điều 65, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Việt A mức án 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Phạt bổ sung bị cáo Việt A số tiền 08 (tám) triệu đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

* Giao các bị cáo Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Trần Văn V và Trần Việt A cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.

* Giao bị cáo Nguyễn Đức T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân và 01chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng; sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho đề ngày 28/5/2025).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Xuân B, Trần Văn T, Trần Cao B1, Nguyễn Đức T1, Trần Văn V và Trần Việt A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Vũ Thư;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư;
  • - UBND xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư;
  • - Chi cục THADS huyện Vũ Thư;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Bình
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Xuân Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân B và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger