TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HS-ST Ngày: 27-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Nhân Á, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1962 và bà Trần Thị Hương N, sinh năm 1967; bị cáo có vợ tên Trần Thị Hồng N1, sinh năm 1991; bị cáo có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B (nay là P trại tạm giam khu vực B) từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1993, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành P1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1972; bị cáo có vợ tên H MLIT NIÊ, sinh năm 1994; bị cáo có 02 con (lớn nhất sinh năm 2013; nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B (nay là P trại tạm giam khu vực B) từ ngày 01/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Họ và tên: Trần Văn N2, sinh năm 1988, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1951 và bà Phan Thị C1, sinh năm 1952; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị P2, sinh năm 1990, bị cáo có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B (nay là P trại tạm giam khu vực B) từ ngày 01/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Kim Hồng H1, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú: Ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Ông Lâm Nhựt L, tinh năm 2002; nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Bà Trần Thị Hồng N1, sinh năm 1991; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Có mặt.
- + H MLIT NIÊ, sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, E'đing, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Nhân Á, ông Kim Hồng H1 và ông Lâm Nhựt L là bạn bè quen biết với nhau. Các bị cáo Phạm Nhân Á, Nguyễn Ngọc V và Trần Văn N2 là bạn bè cùng làm chung công ty. Trong quá trình quen biết, L có mượn của bị cáo Á 500.000 đồng nhưng hứa hẹn hoài không trả.
Khoảng 17 giờ ngày 11/11/2021, bị cáo Á rủ bị cáo V và bị cáo N2 đến quán nhậu nướng Anh T1 ở ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương) để uống rượu. Tại đây, bị cáo Á có kể cho bị cáo V và bị cáo N2 nghe về việc Lâm Nhựt L thiếu tiền bị cáo Á nhưng khi bị cáo Á điện thoại đòi tiền thì L không những không trả mà còn thách thức bị cáo Á. Do bực tức nên bị cáo Á rủ bị cáo V và bị cáo N2 cùng đi tìm L để chém thì bị cáo V và bị cáo N2 đồng ý. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, cả ba ngưng uống rượu, bị cáo Á thuê một chiếc ô tô taxi loại 07 chỗ, màu sơn trắng không rõ nhãn hiệu và biển số chở cả ba về nhà của bị cáo Á tại khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương để bị cáo Á vào nhà lấy 01 con dao dài khoảng 60 cm, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại và cất trên xe ôtô. Sau đó, bị cáo Á kêu tài xế taxi chở cả nhóm đi đến chợ A để bị cáo Á mua thêm 02 cây dao loại dao phát cỏ dài khoảng 60cm, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại và cất trên xe ôtô.
Sau khi chuẩn bị dao xong, bị cáo Á kêu tài xế chở cả nhóm đi đến chỗ ở của L ở nhà T thuộc khu phố K, phường A, thành phố B. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, các bị cáo Á, N2 và V đến nhà trọ Hoàng M. Lúc này, L đang đứng trước cửa phòng T2 cùng với ông Kim Hồng H1. Bị cáo Á cùng bị cáo V và bị cáo N2 mỗi người liền cầm 01 cây dao đã chuẩn bị sẵn, bước xuống xe và đi vào vị trí L đang đứng. Bị cáo Á dùng tay trái chụp cổ áo của L và hỏi “sao mày thiếu tiền tao mà thách tao, tao về”, L trả lời “Từ từ em trả”, lúc này bị cáo Á dùng sống dao chém một cái vào vùng cổ trái của L gây thương tích; lúc này L đẩy bị cáo Á ra và chạy ra phía sau nhà trọ thoát được, lúc này bị cáo Á quay lại thì thấy ông H1 thì bị cáo Á nhớ lại việc nghe bạn bè làm chung công ty nói ông H1 hay nói xấu bị cáo Á nên bị cáo Á nói “chém ông H1 luôn”, do sợ bị chém nên ông H1 chạy ra phía đầu dãy trọ nhưng chạy được khoảng 05 mét thì ông H1 vấp té; thấy vậy bị cáo V và bị cáo N2 cũng cầm dao chém vào người của ông H1 trúng vào gối trái và vai phải của ông H1, bị cáo Á cũng lao vào dùng dao chém vào bàn chân trái của ông H1. Khi chém xong thì bị cáo Á kêu bị cáo V và bị cáo N2 cùng lên xe taxi tẩu thoát. Sau khi phạm tội các bị cáo bỏ trốn, trong quá trình bỏ trốn bị cáo ném 03 cây dao vào bãi cỏ ven đường không xác định được địa điểm nên không thu hồi được các cây dao.
Ngày 12/12/2021, Lâm Nhựt L và Kim Hồng H1 đã làm đơn tố giác hành vi của bị cáo Phạm Nhân Á cùng đồng phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương.
* Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 476/2023/KLGĐ-TTPY/ ngày 10/8/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh B, kết luận đối với thương tích của bị hại Kim Hồng H1:
1. Các kết quả chính:
- - Vết thương phức tạp mặt ngoài bàn chân trái 11 x 4cm, đứt gân gấp ngón III, IV, V và gân duỗi dài-duỗi ngắn ngón IV, V, gãy xương bàn chân III, IV, V, đã phẫu thuật khâu nối gân, kết hợp xương bàn III, loại bỏ mô hoại tử, cắt bỏ xương bàn IV + cắt gân duỗi ngón IV, cắt bỏ ngón V + xương bàn V, đã lấy da bàn chân trái 4 x 5cm, ghép vào vùng vết thương khuyết da bàn chân trái, sẹo lành. Di chứng: Biến dạng bàn chân trái, đi lại còn đau.
- - Vết thương vai phải 9,5 x 0,7cm, đứt một phần cơ delta và trên vai, đã khâu cơ, sẹo lành.
- - Vết thương mặt trong gối trái 8,7 x 1,1 cm, đứt cánh trong bánh chè và một phần cơ rộng trong, đã khâu cánh trong bánh chè và một phần cơ rộng trong, sẹo lành.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của: Kim Hồng H1 tại thời điểm giám định là: 34% (ba mươi bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác: (nếu có).
Cơ chế hình thành thương tích: Các vết thương này có bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
* Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 648/2024/KLGĐ-TTPY/ ngày 25/10/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh B, kết luận đối với thương tích của Lâm Nhựt L:
1. Các kết quả chính:
- - Vết thương sau cổ trái 5 x 0,5cm, sẹo lành.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của: Lâm Nhựt L tại thời điểm giám định là: 04% (bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác: (nếu có).
* Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương sau cổ trái: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Ngày 05/12/2024, Lâm Nhựt L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Phạm Nhân Á và đồng phạm.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 13/4/2024, bà Trần Thị Hồng N1 là vợ của Phạm Nhân Á đã bồi thường cho bị hại Kim Hồng H1 số tiền 43.000.000 đồng. Ngày 17/01/2025, bà Nguyễn Thị P2 và bà H Mlit N3 là vợ của Trần Văn N2 và Nguyễn Ngọc V đã bồi hoàn lại số tiền 28.000.000 đồng (mỗi người 14.000.000 đồng) cho Phạm Nhân Á.
Ngày 13/4/2023, bị hại Kim Hồng H1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phạm Nhân Á.
* Tại Cáo trạng số 44/CT- VKSBC ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phạm Nhân Á về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Nhân Á từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V từ 05 năm đến 06 năm tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn N2 05 năm đến 06 năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại Kim Hồng H1 đã nhận số tiền bồi thường là 43.000.000 đồng của gia đình các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- + Bà N1, bà N3 và bà P2 là vợ của các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại Kim Hồng H1 tổng số tiền 43.000.000 đồng và bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bà N1, bà N3 và bà P2 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Trong phần tranh luận: Các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa không ai có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo hối hận về hành vi các bị cáo đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại ông Kim Hồng H1 trình bày: Khoảng 20 giờ ngày 11/11/2021, bị cáo Phạm Nhân Á cùng Nguyễn Ngọc V và Trần Văn N2 có cầm dao chém ông gây thương tích. Ông đã nhận được thông báo kết quả trưng cầu giám định thương tích và ông đồng ý với kết luận giám định thương tích. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông tổng số tiền 43.000.000 đồng. Ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác. Ông đã nhận được thông báo và giấy triệu tập của Tòa án tham gia phiên Tòa nhưng ông bận công việc không thể tham gia được. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và ông không có yêu cầu gì thêm trong vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về hình phạt, ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lâm Nhựt L trình bày: Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà (bà Trần Thị Hồng N1) trình bày: Bà là vợ của bị cáo Phạm Nhân Á. Ngày 13/4/2024, dưới sự tác động của chồng bà là bị cáo Phạm Nhân Á . Bà đã thay mặt cùng gia đình các bị cáo N2 và V đứng ra thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 43.000.000 đồng (bà bồi thường 15.000.000 đồng). Nay bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà (bà H Mlit N3) trình bày: Bà là vợ của bị cáo Nguyễn Ngọc V. Ngày 13/4/2024, dưới sự tác động của chồng bà là bị cáo Nguyễn Ngọc V . Bà cùng gia đình các bị cáo N2 và Á đứng ra thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 43.000.000 đồng (bà bồi thường cho bị hại 14.000.000 đồng). Nay bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà (bà Nguyễn Thị P2) trình bày: Bà là vợ của bị cáo Trần Văn N2. Ngày 13/4/2024, dưới sự tác động của chồng bà là bị cáo Trần Văn N2. Bà cùng gia đình các bị cáo V và Á đứng ra thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 43.000.000 đồng (bà bồi thường cho bị hại 14.000.000 đồng). Nay bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ ngày 11/11/2021 tại nhà trọ H2 thuộc khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Phạm Nhân Á, Trần Văn N2, Nguyễn Ngọc V đã có hành vi dùng dao cố ý gây thương tích cho bị hại Kim Hồng H1, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 34%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 44/CT-VKSBC ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo vì mâu thuẫn nhỏ và nhận thức được dao sắt là những hung khí nguy hiểm, có thể gây thương tích, gây chết người nhưng lại mang dao theo bên mình, chuẩn bị từ trước và sẵn sàng sử dụng để gây thương tích cho bị hại. Theo hướng dẫn tại Mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì dao nhọn là hung khí nguy hiểm. Vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã dùng dao chém bị hại với tỉ lệ thường tích 34% nên hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân công chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo Á người chuẩn bị công cụ là 03 con dao, rủ rê, kích động bị cáo V và bị cáo N2 chém bị hại H1 và bị cáo Á là người trực tiếp chém vào bàn chân bị hại H1 nên bị cáo Á có vai trò chính và chủ mưu trong vụ án; các bị cáo V và N2 cùng tham gia chém bị hại nên các phạm tội với vai trò là người thực hành. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ của hình vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
[5] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng do có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 10 năm tù, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[6] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:
- [6.1] Bị cáo Á thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo có ông nội Phạm Văn B là người có công với cách mạng (ông nội là liệt sĩ). Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [6.2] Bị cáo V và bị cáo N2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [8] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [9] Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- [10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường xong cho bị hại. Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- [11] Đối với hành vi của bị cáo Á dùng dao gây thương tích cho ông L. Do ông L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra không khởi tố là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [12] Đối với đối tượng tài xế taxi chở các bị cáo đi chém bị hại. Do các bị cáo không biết rõ nhân thân lai lịch nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này.
- [13] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Nhân Á, Nguyễn Ngọc V và Trần Văn N2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Phạm Nhân Á 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N2 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.
4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Phạm Nhân Á, Nguyễn Ngọc V và Trần Văn N2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
6. Về quyền kháng cáo:
- - Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà Trần Thị Hồng N1, bà Nguyễn Thị P2, bà H Mlit N3) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2025).
- - Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Lâm Nhựt L) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Quang Bảo |
Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 67/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Nhân Á