Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày: 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Vững.
  2. Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/HSST-QĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Vủ T, sinh ngày 09/02/2003 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1976 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (còn sống); Vợ con chưa có; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Đỗ Nguyễn Quốc V, sinh ngày 28/6/2009 (đã chết).

Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại Đỗ Nguyễn Quốc V:

  1. Anh Đỗ Thanh T2 sinh năm 1983 (có mặt).
  2. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Chị Nguyễn Kim N, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.

  3. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1957 (vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Vũ T là người làm thuê cho anh Nguyễn Vũ L chịu trách nhiệm điều khiển chiếc xe cộ lúa (một loại xe tự chế dùng để vận chuyển nông sản), không được xem là xe máy chuyên dùng và không thuộc đối tượng tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ.

Vào khoảng 19 giờ ngày 10 tháng 5 năm 2024, Nguyễn Vủ T điều khiển xe tự chế vận chuyển lúa thuê cho bà Nguyễn Thị Q từ ruộng của bà Q ra tuyến đường nhựa nông thôn liên ấp thuộc ấp M, xã M, huyện T. Khi vừa lên đường, T đã cho xe dừng đỗ trên phần đường bên trái theo hướng từ kênh Nguyễn Văn T4 A đi về kênh A, đầu xe hướng về kênh Nguyễn Văn T4 A và có bật đèn chiếu sáng. Sau khi chất lúa từ trên xe xuống xong một bên, T quay đầu xe, lúc này đầu xe hướng về kênh A, đuôi xe quay về kênh Nguyễn Văn T4 A. Sau đó, T cùng với anh Nguyễn Vũ L tiếp tục công việc chất lúa xuống đường. Tại thời điểm này, chiếc xe tự chế vẫn đang chở khoảng 07 bao lúa, chiếm hầu hết mặt đường nhưng không có bất kỳ biển cảnh báo, rào chắn hay tín hiệu nguy hiểm nào.

Cùng thời điểm đó, anh Đỗ Nguyễn Quốc V điều khiển xe mô tô biển số 66L4-6109 di chuyển theo hướng từ kênh N A về kênh A. Khi đến đoạn đường nơi xe cộ lúa của T đang dừng đỗ để bốc dỡ lúa, do thiếu tín hiệu cảnh báo từ xa, xe tự chế lại chiếm hầu hết phần đường, cộng thêm trời tối, anh V đã không kịp xử lý và dẫn đến va chạm trực diện vào phần đuôi xe tự chế.

Va chạm mạnh khiến anh Đỗ Nguyễn Quốc V bị ngã xuống đường bất tỉnh và được đưa đến Bệnh viện Đ để cấp cứu, nhưng đã tử vong trên đường đi. Chiếc xe mô tô bị hư hỏng nặng ở phần đầu.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phương tiện và trưng cầu giám định pháp y đối với tử thi, với các kết quả cụ thể như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường nông thôn được tráng bê tông nhựa, có chiều rộng 3,50m. Các bao lúa đã lấn ra 0,70m tính từ lề phải theo hướng di chuyển từ kênh N A đến kênh A, đoạn đường này thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Phần đường còn lại có thể lưu thông rộng 2,80m. Lấy lề đường bên phải theo hướng từ kênh A đi kênh Nguyễn Văn T4 A được chọn làm mép đường chuẩn. T1 vùng va chạm đo được cách mép đường chuẩn là 0,95m và vành bánh xích cao su màu đen của xe tự chế cách lề đường chuẩn là 65cm.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Xe mô tô biển số 66L4-6109: Phần đầu xe bị gãy rời, vỡ hoàn toàn. Phần kim loại đầu xe cố định tay lái điều khiển có dính chất màu xanh kích thước (4x1) cm, cùng với một vết trầy xước màu đen kích thước (10x4) cm. Mặt nạ gần còi xe có vết trầy xước mài mòn còn sáng kích thước (4x4) cm.

- Xe tự chế dùng để chở lúa: Sàn kim loại rộng 2m, phần sàn phía sau bị móp thụng, trầy xước, mài mòn còn sáng kích thước (30x6) cm, cách mặt đường 90cm. Từ mép vành bánh xích cao su màu đen đến vách thanh kim loại sàn để lúa phía ngoài là 30cm.

Kết quả giám định pháp y về tử thi:

- Bản kết luận giám định tử thi số: 85/KLGĐTT-TTPYĐT ngày 22-5-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ: Nguyên nhân chết của Đỗ Nguyễn Quốc V được kết luận là N1 máu cơ tim cấp + Suy hô hấp/Lao đa màng.

- Công văn số 922/CV-TTPY ngày 28-8-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ:

+ Nạn nhân Nguyễn Đỗ Quốc V1 bị nhồi máu cơ tim cấp trước khi va chạm vào phương tiện tự chế chở lúa.

+ Nguyên nhân dẫn đến suy hô hấp là do tai nạn giao thông.

+ Nguyên nhân chính dẫn đến tử vong của nạn nhân là do suy hô hấp sau tai nạn giao thông trên nền nhồi máu cơ tim xảy ra trước đó.

- Công văn số 1455/CV-TTPY ngày 28-11-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ: Nguyên nhân dẫn đến tử vong là rách màng phổi làm hai phổi xẹp dẫn đến suy hô hấp cấp.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển số 66L4-6109 đã được thu giữ và sau đó trao trả lại cho ông Đỗ Thanh T2, cha của nạn nhân.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Vủ T và những người đại diện theo pháp luật của Đỗ Nguyễn Quốc V đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 75.000.000 đồng. Việc giao nhận tiền đã xong và không có yêu cầu nào khác.

Tại Bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTM, ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố bị cáo Nguyễn Vủ T về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 261 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 261 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Vủ T phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ

+ Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 261, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vủ T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01(một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.

* Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Vủ T5 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Vủ T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của bị hại là chị Nguyễn Kim N vắng mặt không có lý do; người làm chứng là bà Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Văn T3 vắng mặt không có lý do. Xét thấy, những người tham gia tố tụng này vắng mặt nhưng đã có lời khai của những người này trong hồ sơ vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Trường hợp cần thiết, Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của những người tham gia tố tụng này tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định.

Về nội dung:

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vủ T thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTM, ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Nguyễn Vủ T điều khiển xe cộ lúa tự chế, không thuộc phương tiện giao thông hợp pháp, để vận chuyển lúa thuê tại xã M, huyện T. Vào tối 10-5-2024, bị cáo T dừng xe trên đường nông thôn tại ấp M, xã M, huyện T, chiếm hầu hết phần đường mà không đặt tín hiệu cảnh báo. Anh Đỗ Nguyễn Quốc V, điều khiển xe mô tô, do trời tối và thiếu cảnh báo, đã va chạm trực diện vào đuôi xe tự chế, ngã bất tỉnh và tử vong trên đường cấp cứu do suy hô hấp cấp. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo về tội “Cản trở giao thông đường bộ” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 261. Tội cản trở giao thông đường bộ

1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết người;

...".

[5] Bị cáo Nguyễn Vủ T là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được việc đỗ xe tự chế chở lúa trên đường giao thông nông thôn vào ban đêm mà không có biện pháp cảnh báo nguy hiểm, gây cản trở giao thông có thể dẫn đến tai nạn, nhưng do chủ quan nên bị cáo vẫn thực hiện, dẫn đến vụ tai nạn làm anh V chết, đây là lỗi vô ý của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng của người khác, nên việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cấn thiết, cần có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và nhân thân tốt từ trước đến nay không có vi phạm pháp luật gì, có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện để bị cáo có thể tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Vủ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 261, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vủ T phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vủ T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Vủ T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  2. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Vủ T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP, (K.O).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về cản trở giao thông đường bộ

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cản trở giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giao thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger