Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3- NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày: 26-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Anh, bà Nguyễn Thị Liên
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh N mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2025/TLST-HS ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Công H (tên gọi khác: không); sinh ngày 19 tháng 7 năm 1995 tại xã A, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm I, xã A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần S, sinh năm 1975 và Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, vợ: Hồ Thị D, sinh năm 1998 (đã ly hôn),, con : có 01 con, sinh năm 2017, tiền sự: không; Tiền án: Ngày 25/4/2019, bị Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 44/2019/HSST. Chấp hành xong ngày 19/11/2020; Ngày 21/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 233/2022/HSST. Chấp hành xong ngày 28/02/2024; tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2025 tại trại giam công an tỉnh N.

- Bị hại: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993. Trú tại: xóm A, xã H, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1991. Trú tại: xóm D, xã A, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 27/8/2025, Trần Công H đến nhà Cao Văn B, sinh năm 1992, trú tại xóm G, xã A, tỉnh Nghệ An để uống rượu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã H, tỉnh Nghệ An đến nhà B chơi. Lúc này, Trần Công H ra về thì thấy 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamha, loại xe Exciter, màu trắng đỏ đen, mang biển kiểm soát 37K1-927.18 của Nguyễn Văn T1 đang dựng ở sân, tại ổ khóa có 01 (Một) chiếc chìa khóa đang cắm sẵn không có ai trông coi nên H lên xe nổ máy đi. Sau đó, H đến nhà Cao Văn C, sinh năm 1994, trú tại xóm D, xã A, tỉnh Nghệ An rồi rủ C cùng đi đến cơ sở cầm đồ “Q” địa chỉ tại xóm N, xã A, tỉnh Nghệ An do anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1991, trú tại xóm D, xã A, tỉnh Nghệ An làm chủ và xin cầm chiếc xe nói trên với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), hẹn đến ngày 04/9/2025 H sẽ chuộc xe về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, nghi ngờ Trần Công H lấy trộm xe của mình nên Nguyễn Văn T1 đến nhà H để hỏi thì H nói "Xe vi phạm nồng độ cồn nên bị Cảnh sát giao thông giữ rồi” và hẹn T1 mai nộp tiền phạt lấy xe về. Ngày 28/8/2025, Trần Công H cùng với Nguyễn Văn T1 đón xe buýt đi đến Trạm Cảnh sát giao thông D1. Khi xuống xe, T1 đưa đăng ký xe cho H rồi chờ ở quán nước gần đó còn H cầm đăng ký xe đến khu vực gần cổng trụ sở Trạm Cảnh sát giao thông Diễn C1 đứng một lúc rồi quay lại nói với T1 "Công an đang giữ, hiện tại chưa đủ tiền để nộp phạt lấy”, sau đó cả hai cùng đón xe buýt đi về. Đến ngày 29/8/2025, do cần tiền tiêu xài nên H tiếp tục đến cơ sở cầm đồ “Q”, gặp Hoàng Văn Q nói "Cho em lấy thêm một ít tiền nữa" rồi đưa đăng ký xe cho Q. Q đồng ý và đưa thêm cho H số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này Trần Công H đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 19/9/2025, anh Nguyễn Văn T1 đến Công an xã A, tỉnh Nghệ An trình báo.

Cùng ngày, nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Trần Công H đã đến Công an xã A đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 19/9/2025, Hoàng Văn Q tự nguyện giao nộp 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-927.18 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Cơ quan điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 207/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh N kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-927.18 số máy G3D4E802566, số khung RLCUG1010JY037128, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 8 năm 2025 có giá trị là 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Công H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Ngoài ra, sau khi trộm cắp chiếc xe máy, Trần Công H đã có hành vi gian dối (nói với T1 xe bị Công an giữ) để lấy giấy tờ xe của Nguyễn Văn T1 rồi mang đến cửa hàng Q1 cắm lấy 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của Trần Công H có dấu hiệu tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ý thức của H tại thời điểm đó là không để T1 phát hiện việc H trộm cắp tài sản; mặt khác số tiền chiếm đoạt được 1.500.000 đồng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, hành vi của Trần Công H không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-927.18 số máy G3D4E802566, số khung RLCUG1010JY037128, xe đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 040217 mang tên Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993, địa chỉ xóm A, N, N, Nghệ An.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSDC ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An truy tố bị cáo Trần Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Nghệ An. Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An trình bày lời luận tội đối với bị cáo Trần Công H: giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị kết tội bị cáo Trần Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo toàn bộ nội dung cáo trạng. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Công H từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự. bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[3] Về tội danh:

Lời khai của bị cáo Trần Công H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/8/2025, tại nhà Cao Văn B, sinh năm 1992, trú tại xóm G, xã A, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, Trần Công H đã có hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-927.18 của Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã H, tỉnh Nghệ An trị giá 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng), sau đó đến cầm cắm cho Hoàng Văn Q với giá 4.000.000 đồng. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy hành vi của bị cáo Trần Công H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An truy tố Trần Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần thiết phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Công H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo đã bị xét xử nhiều lần nhưng không lấy bài học kinh nghiệm và tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như mức đề nghị Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự. bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về các vấn đề khác: Đối với Cao Văn C là người cùng Trần Công H đến quán Q2 cầm cắm xe máy. Tuy nhiên C không biết chiếc xe máy này do H trộm cắp mà có nên không phạm tội.

Đối với Hoàng Văn Q là chủ quán cầm đồ “Q”, tại thời điểm nhận cầm cố xe máy, Q không biết chiếc xe máy trên là do Trần Công H trộm cắp mà có nên không phạm tội

[12] Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Công H 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo (ngày 19/9/2025).

Về hình phạt bổ sung: không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.

Việc xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 3- Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - bị cáo; bị hại, người có QLNVLQ.
  • - UBND xã An Châu.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Võ Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Công Hòa 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger