|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 67/2025/HS-PT Ngày 17 tháng 6 năm 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
- Các Thẩm phán:
- - Ông Nguyễn Trung Tín;
- - Bà Võ Thị Trầm.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo Trần Khánh N và Nguyễn Xuân T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Các bị cáo có kháng cáo:
-
Trần Khánh N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1991, tại: Khánh Hòa; nơi cư trú: P, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình H và bà Nguyễn Thị H1. Có vợ và có 01 người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2024.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Xuân T, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1987, tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Tổ H thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Khánh Hòa; chỗ ở: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T1 và bà Lưu Thị D. Có vợ và có 01 người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 04/2014/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2014, Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Xuân T 01 năm 6 tháng tù về tội "Chống người thi hành công vụ" và "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng", theo điểm b khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27 tháng 11 năm 2014. Chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 28 tháng 5 năm 2014.
- - Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 106/2016/HSPT ngày 22 tháng 3 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Nguyễn Xuân T 03 năm 6 tháng tù về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo các điểm a, c Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24 tháng 7 năm 2018. Chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 22 tháng 4 năm 2016.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
Ngoài ra còn có 05 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Khánh N: Ông Trần Đình L – Luật sư của Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H2 và Trần Khánh N có mối quan hệ quen biết với nhau. Khoảng tháng 3 năm 2022, H2 và N bàn bạc, thống nhất về việc thuê nhà số B đường T - phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa của bà Lê Thị T2 để kinh doanh dịch vụ lưu trú. Quá trình kinh doanh không có khách nên cả hai bàn bạc sửa chữa, cải tạo, cách âm 04 phòng (tầng 1 + 2) nhằm mục đích để phục vụ cho khách có nhu cầu thuê phòng sử dụng trái phép chất ma tuý và thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn khách sạn B1 để hoạt động, H2 đảm nhận vị trí Giám đốc. Đến ngày 01 tháng 9 năm 2022, N và H2 bắt đầu kinh doanh khách sạn B1 với giá thuê phòng lưu trú là 500.000đ/phòng/đêm, giá thuê phòng sử dụng ma tuý là 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) đến 2.000.000 (hai triệu đồng). Trong thời gian này, N giao toàn quyền quản lý, thu, chi tại khách sạn cho H2 và cả hai thống nhất chia tỷ lệ lợi nhuận là 50/50. H2 liên lạc với "H3" (chưa rõ lai lịch) thuê loa, đèn để cung cấp cho khách khi có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý và thuê Lê Đức V (sinh ngày 03 tháng 7 năm 2005), Nguyễn Xuân T3 làm nhân viên lễ tân phục vụ khách với mức lương 3.500.000đ/người/tháng. Khi V và T3 vào làm việc tại khách sạn B1, H2 thống nhất với V và T3 khi cho khách thuê phòng sử dụng ma tuý, nếu có khách có nhu cầu cung cấp đèn, loa, đĩa sứ để sử dụng ma tuý thì cung cấp cho khách, nếu khách hỏi mua ma tuý thì cung cấp số điện thoại 0935.815.xxx để khách liên hệ mua. Hàng ngày, T3 hoặc V sẽ ghi chép vào sổ để tính toán tiền với N. Khoảng 3 - 5 ngày sau đó, H2 và N sẽ tính toán tiền và chia tiền. Bằng hình thức trên từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022, H2 và N đã tổ chức cho nhiều người thuê phòng tại khách sạn B1 để sử dụng trái phép chất ma tuý.
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 11 năm 2022, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh K phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra khách Bombay. Vào thời điểm kiểm tra, tại tầng trệt và 02 phòng (1.01 và 2.01) đang hoạt động với tổng cộng 10 người có biểu hiện tổ chức sử dụng và sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể như sau:
Tại tầng trệt, có 05 người gồm: Nguyễn Ngọc H2, Lê Đức V, Nguyễn Xuân T3, Lương Chí H4 và Nguyễn Sỹ D1.
Quá trình kiểm tra tại tầng trệt, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ của lễ tân khách sạn: Tại khe hở giữa hai tấm nệm ngủ có 01 bịch nylon, có khoá hằn miệng màu xanh, kích thước (3x3)cm, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (được niêm phong, ký hiệu A). Lê Đức V khai nhận đây là ma tuý "khay" của V cất giấu để sử dụng. Tại khu vực quầy lễ tân, thu giữ được 03 quyển sổ ghi chép việc thu, nhận và giao tiền của khách thuê phòng, sử dụng các dịch vụ ăn uống của khách sạn và 01 đèn chiếu lazer màu đen (không rõ nhãn hiệu).
Tại phòng 1.01, có 04 người, gồm: Nguyễn Hoài M (sinh ngày 25 tháng 7 năm 2005), Đoàn Vũ Trà M1, Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đình B. Tổ công tác thu giữ được 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên đĩa có 01 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 10.000 (mười nghìn đồng) bằng polyme được cuộn tròn thành ống hút và chất bột màu trắng (đã niêm phong, ký hiệu B), 01 đèn chiếu lazer màu đen, không rõ nhãn hiệu, 01 loa màu đen hiệu Samsung hình tam giác cao khoảng 50cm.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15 tháng 11 năm 2022, khi đang ngồi nhậu tại quán L4 kèo đường P, thành phố N, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đình B và Đoàn Vũ Trà M1 bàn nhau đi đến khách sạn B1 sử dụng ma tuý. T sử dụng xe ô tô biển số 79A-226.98 chở B và M1 đến khách sạn B1. Khi đến nơi, B gặp Nguyễn Xuân T3 hỏi thuê phòng và được T3 sắp xếp lên phòng 1.01, B nói T và Trà M1 lên phòng trước, còn B ở lại nhờ T3 liên lạc mua ma tuý với số lượng "1 chấm" ma tuý khay và 01 viên ma tuý thuốc lắc và nhờ T3 gọi 1 tiếp viên nữ đến để phục vụ việc sử dụng ma tuý. Thân sử dụng số điện thoại 0924.420.xxx gọi vào số 0935815607 cho một đối tượng nam chưa rõ lai lịch đặt mua ma tuý với giá 3.600.000 (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và nói V gọi cho nhân viên nữ đến phục vụ khách sử dụng ma tuý thì V gọi cho Nguyễn Hoài M đến phòng 1.01 để phục vụ. Sau khi thoả thuận, B lên phòng 1.01 và nói với T "Chút có thằng lễ tân lên, mày chuyển cho anh mượn 3.600.000 (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) đưa cho nó, có gì anh trả sau", T đồng ý, rồi B đi vào nhà vệ sinh. Lúc này Hoài M đến rồi Tô Triều V1 đi vào phòng bỏ gói thuốc lá có đựng "nửa hộp năm" ma tuý khay và 02 viên ma tuý thuốc lắc lên bàn và nói Trung chuyển 3.600.000 (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) nên T đã chuyển từ tài khoản số 1020401236 (VCB) đến tài khoản 19005339399999 (T5) tên TOTRIEUVY. Sau đó, T3 lấy 01 đĩa sứ màu trắng ngay tại quầy lễ tân mang lên phòng 1.01 đặt lên bàn cho nhóm của B sử dụng sử dụng ma tuý rồi đi xuống sảnh. T bẻ viên ma tuý "thuốc lắc thành 04 mảnh và đưa bịch ma tuý "khay" cho Trà M1 đổ ra đĩa sứ chia thành nhiều "đường" và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 (mười nghìn đồng) cuộc tròn thành ống hút rồi cả nhóm thay nhau sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi Trà M1, Hoài M, B và T đang sử dụng ma tuý thì bị Tổ công tác kiểm tra, phát hiện như trên.
Tại phòng 2.01 có 06 người, gồm: Hoàng Văn S, Lê Văn L1, Mai Thành L2, Nguyễn Thị Thùy A, Nguyễn Ngọc T4, Phạm Hòa Nhã H5. Quá trình điều tra ban đầu, các đối tượng khai nhận: Cùng bàn nhau đến khách sạn B1 thuê phòng để sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, cả nhóm vừa mới lên phòng thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra. Qua test nhanh, các đối tượng này đều dương tính với chất ma tuý.
Tại phòng 1.02 và 2.02 không có người nhưng thu giữ được 02 đèn điện tử màu trắng không rõ nhãn hiệu và 02 loa màu đen.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Khánh N.
- - Áp dụng các điểm b và c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.
- - Xử phạt bị cáo Trần Khánh N 08 (tám) năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác từ 05 (năm) năm 07 (bảy) tháng tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về các tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, bị cáo Trần Khánh N kháng cáo kêu oan
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, bị cáo Nguyễn Xuân T kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, bị cáo Nguyễn Xuân T rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Khánh N thay đổi kháng cáo xin giảm hình phạt và không tiếp tục kêu oan.
Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T đã rút.
- - Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với Trần Khánh N.
Trình bày lời bào chữa, bị cáo Trần Khánh N và Luật sư Trần Đình L đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo do có tình tiết mới là bị cáo không kêu oan mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời đã thành khẩn khai báo, nhận thức được sai lầm của bản thân tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- 1.1. Kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn kháng cáo nên được cấp phúc thẩm xem xét.
- 1.2. Đối với bị cáo Nguyễn Xuân T, sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo đã tự nguyện rút kháng cáo nên Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm và không xem xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T.
[2]. Xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Khánh N:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Khánh N đã khai nhận và thừa những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Xuân T3 và Lê Đức V trong vụ án và các chứng cứ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có trong hồ sơ. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang kết án bị cáo Trần Khánh N về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại bút lục 267, bị cáo khai: “Tôi là người điều hành chính ra mọi quyết định trong kinh doanh H2 là người quản lý chính phụ trách chi tiêu quản lý tiền bạc tại cơ sở kinh doanh. Mọi hoạt động liên quan đến tiền H2 đều trao đổi với tôi trước khi đưa ra quyết định”. Như vậy, tuy không trực tiếp quản lý, điều hành khách sạn nhưng N là người chủ mưu, giữ vai trò chính, phạm tội với 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” (bị cáo Lê Đức V) nên phải chịu mức án cao hơn Nguyễn Ngọc H2 và các bị cáo khác trong nhóm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" với cùng khung hình phạt.
Trong khi bị cáo không thành khẩn khai báo, không nhận tội, không nhận thức được sai lầm của mình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo 8 (tám) năm tù là đã chiếu cố giảm nhẹ đáng kể cho bị cáo. Do đó, mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết này cho bị cáo nhưng cũng không có cơ sở giảm nhẹ thêm hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt.
[3]. Về án phí: Bị cáo Trần Khánh N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343, Điều 345; các khoản 1 và 2 Điều 348; các điểm a và đ khoản 1 và khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
-
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T.
Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo Nguyễn Xuân T có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Khánh N,
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Khánh N,
- Xử phạt bị cáo Trần Khánh N 08 (tám) năm tù, về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 3 năm 2024.
-
Về án phí:
Bị cáo Trần Khánh N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17 tháng 6 năm 2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |
Bản án số 67/2025/HS-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (phúc thẩm)
- Số bản án: 67/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Khánh Nhựt chữa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
