Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày: 19-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Công

Ông Phạm Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Văn C, sinh ngày 29-10-1973 tại: Tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: [...]; địa chỉ đăng ký thường trú: Số E P, phường N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ cư trú: Số E P, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết); vợ (đã ly hôn) có 2 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 05-4-2017, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình ) xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngày 29-6-2021 Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; bị tạm giam từ ngày 14-7-2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trần Minh Đ, sinh ngày 28-08-1981 tại: Tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: [...]; địa chỉ đăng ký thường trú: Số I M, phường N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ cư trú: Số I M, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T1 và bà Vũ Thị Thanh H; vợ Phan Thị P, có 2 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09-9-2021, Công an phường N, thành phố N (nay là công an phường N, tỉnh Ninh Bình) xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; bị tạm giam từ ngày 14-7-2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Bùi Ngọc H1, sinh ngày 31-08-1973 tại: Tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: [...]; địa chỉ đăng ký thường trú: Số B P, phường N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ cư trú: Số B P, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc S và bà Trần Thị T2; vợ con: không; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09-6-2015, Công an phường C, thành phố N (nay là công an phường N, tỉnh Ninh Bình) xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; ngày 19-6-2015 Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh N (nay là công an tỉnh N) xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; ngày 15-02-2017, Công an phường P, thành phố N (nay là công an phường N, tỉnh Ninh Bình) xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; bị tạm giam từ ngày 14-7-2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Phạm Tiến D, ông Trần Như Đ1 (không triệu tập tới phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 14-7-2025, tổ công tác Công an phường T, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng số nhà E đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình phát hiện Trần Minh Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B2 - 438.56 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra Đ chạy vào khu vực trước cửa nhà Đỗ Văn C vất túi ni lông màu trắng kích thước (2 x 2) cm bên trong có chứa các hạt chất rắn dạng tinh thể màu trắng vào khu vực nền nhà dưới gầm bàn thờ nhà C. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và mở kiểm tra túi ni lông phát hiện. Thời điểm này, trong nhà có C và Bùi Ngọc H1. Trần Minh Đ, Đỗ Văn C và Bùi Ngọc H1 đều khai nhận đó là túi ma tuý tổng hợp dạng đá do cả ba cùng bàn bạc, rủ nhau mua để sử dụng chung.

Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu mẫu nước tiểu đối với Trần Minh Đ, Đỗ Văn C, Bùi Ngọc H1. Ngoài ra còn thu giữ của Đỗ Văn C 01 (một) thẻ ATM, số thẻ 9704150146297349 của ngân hàng V mang tên DO VAN CUONG; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 màu vàng đã cũ và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ, 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 18B2 - 438.56.

- Bản kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 21-7-2025 Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,108 gram.

- Bản kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 21-7-2025 Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Đều tìm thấy chất Methamphetamine trong 03 mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1, Đỗ Văn C được niêm phong gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 và Đỗ Văn C khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 14-7-2025, Đ đến nhà H1, sau đó H1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18B2 - 438.56 của anh Bùi Hưng N, (cháu H1) chở Đ đến nhà C. C rủ Đ và H1 mua ma túy về sử dụng. Đ và H1 đồng ý nhưng nói không có tiền. Lúc này, C gọi điện thoại cho anh Lương Bình M, sinh năm 1979 là bạn cùng làm ở Hải Phòng hỏi xin tiền để đi xe khách ra Hải Phòng. Anh M chuyển cho C 200.000 đồng vào khoản ngân hàng V của C. H1 điều khiển xe mô tô chở C ra cây ATM của Ngân hàng V Phòng giao dịch H, đường P, phường N rút tiền, còn Đ ngồi đợi. C rút được 200.000 đồng lên xe H1 chở về. C cầm 200.000 đồng để trên bàn bảo Đ đi mua ma túy. Đ cầm 200.000 đồng lấy xe mô tô biển kiểm soát 18B2 - 438.56 đi đến khu vực gầm cầu Đ đường T, phường N gặp một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. Đ cầm túi ma tuý trong lòng bàn tay phải điều khiển xe mô tô về nhà C để cùng sử dụng. Khi đến trước cổng nhà C thì bị tổ công tác Công an phường T phát hiện, bắt quả tang

Bản cáo trạng số 09/CT-VKS-TPNĐ ngày 17-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 thành khẩn khai báo hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gram Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo thể hiện hành vi của các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025). Riêng bị cáo Trần Minh Đ áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng từ đến 04 (bốn) năm tù.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H1 từ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng từ đến 04 (bốn) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số ma túy đã thu giữ, 03 mẫu nước tiểu và 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2x2cm). Trả cho bị cáo Đỗ Văn C 01 thẻ ATM màu xanh đã cũ, số thẻ 9704150146297349 của ngân hàng V mang tên DO VAN CUONG. Trả cho bị cáo Đỗ Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 màu vàng đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự các bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 nói lời sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ và Bùi Ngọc H1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14-7-2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 14-7-2025; Bản kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 21-7-2025 Phòng K Công an tỉnh N; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 12 giờ ngày 14-7-2025, tại nhà của Đỗ Văn C ở địa chỉ 5 đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gram Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine các bị cáo cùng tàng trữ là 0,108 gram nên các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc, phân công nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Trong vụ án này Đỗ Văn C là người khởi xướng, đưa tiền cho Đ đi mua ma tuý nên giữ vai trò thứ nhất. Trần Minh Đ là người trực tiếp mua ma tuý có vai thứ hai. Bùi Ngọc H1 chở C đi rút tiền, cho Đ mượn xe mô tô đi mua ma tuý nên có vai trò tiếp theo trong vụ án.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025). Bố bị cáo Trần Minh Đ có tham gia kháng chiến chống Mỹ, được tặng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Bị cáo Đỗ Văn C xếp vai trò đầu vụ, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu đã được giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng khó cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Trần Minh Đ xếp vai trò thứ hai trong vụ án, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, tuy nhiên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025) nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung .

Bị cáo Bùi Ngọc H1 xếp vai trò thứ ba trong vụ án nên mức hình phạt sẽ thấp hơn bị cáo Đỗ Văn C và Trần Minh Đ. Tuy nhiên do bị cáo Trần Minh Đ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025) nên mức hình phạt sẽ ngang bằng bị cáo H1

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy trong 01 (một) túi niêm phong số 76/KL-KTHS đã thu giữ của các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 mẫu nước tiểu trong 01 (một) túi niêm phong số 77/KL-KTHS đã thu giữ của các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với túi ni lông màu trắng kích thước (2x2cm) trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS4A 199001 đã thu giữ không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 màu vàng đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ và 01 thẻ ATM màu xanh đã cũ, số thẻ 9704150146297349 của ngân hàng V mang tên DO VAN CUONG thu giữ của bị cáo Đỗ Văn C là tài sản cá nhân của bị cáo Đỗ Văn C xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 để giam định, kết quả: trong các mẫu nước tiểu của C, Đ và H1 đều tìm thấy ma túy đá là Methamphetamine. C, Đ, H1 đều đã khai nhận về việc sử dụng trái phép ma tuý trước khi bị bắt nhưng không nhớ thời gian, địa điểm và người đã bán ma tuý. Tài liệu điều tra, xác minh, C, Đ và H1 đều không đủ căn cứ xác định phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18B2 - 438.56 là tài sản của anh Bùi Hưng N, sinh năm 2001, địa chỉ số B đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình. Anh N không biết H1 mượn xe để sử dụng vào việc mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh N là đúng quy định pháp luật.

Đối với anh Lương Bình M, sinh năm 1979, nơi thường trú: bản N, xã Q, tỉnh Nghệ An là người đã chuyển 200.000 đồng cho C qua tài khoản vào ngày 14-7-2025 không biết việc C sử dụng số tiền 200.000 đồng để đi mua ma tuý sử dụng nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Trần Minh Đ hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí:

Các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-7-2025.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-7-2025.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H1 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-7-2025.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025);

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy đã thu giữ trong 01 (một) túi niêm phong số 76/KL-KTHS, 03 (ba) mẫu nước tiểu trong 01 (một) túi niêm phong số 77/KL-KTHS và 01 túi ni lông màu trắng kích thước 2x2cm đã thu giữ trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS4A 199001

Trả cho bị cáo Đỗ Văn C 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5 màu vàng đã cũ và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ và 01 (một) thẻ ATM màu xanh đã cũ, số thẻ 9704150146297349 của ngân hàng V mang tên DO VAN CUONG nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-10-2025).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đỗ Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Minh Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Bùi Ngọc H1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Các bị cáo Đỗ Văn C, Trần Minh Đ, Bùi Ngọc H1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình (02 bản);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn C và đồng bon có hành vi tàng trữ 0.108g Methamphetamine để sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger