TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HS-ST Ngày: 19/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh
Bà Bùi Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 05/11/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu V, sinh năm 2002 tại Ninh Thuận (nay là Khánh Hòa); Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Trần Thị Ú; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phan R – T, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh K (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Ú, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1993
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa
2
(Bà Trần Thị Ú có mặt tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn C vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 22/02/2025, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và môi trường Công an thành phố P- T phối hợp với Công an phường Đ- T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Công an tỉnh K) tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường Đ. Khi đến khu vực trước Đ liệt sĩ, đường H thuộc khu phố C, phường Đ, tổ công tác phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Hữu V đang thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật tạm giữ gồm: 01 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu là M1); 01 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu là M2); 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu đen, gắn sim số 0384630506, số IMEI 1: 862208040169258, IMEI 2: 862208040169241 và 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, màu trắng, không gắn sim, số IMEI 1: 354715682312181, IMEI 2: 354715681856881.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu V tại khu phố B, phường Đ phát hiện và tạm giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng xanh, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu V khai nhận: Trong một lần Vàng cho Võ Như Ý (Sinh năm 1987, trú tại khu phố E, phường Đ) mượn điện thoại. Sau khi Ý trả lại điện thoại, Vàng kiểm tra và biết được số điện thoại 0865.126.xxx là số của người bán ma túy mà Ý đã liên lạc để hỏi mua nên V đã dùng số điện thoại của V là 0384.630.xxx liên lạc gọi điện và hỏi mua ma túy. Vàng chỉ biết người bán ma túy tên là “Cu”, không biết họ tên cũng như địa chỉ cụ thể của C1 ở đâu. Chỉ biết địa điểm giao, nhận ma túy là tại khu vực vòng xoay thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng). Vàng bắt đầu mua ma túy của Cu từ khoảng cuối tháng 12/2024, lần đầu tiên V mua 4.000.000 đồng ma túy đá (không biết khối lượng ma túy là bao nhiêu gam), V đưa tiền trực tiếp cho C1 và nhận ma túy. Cu yêu cầu V nếu lần sau có mua thì chuyển tiền trước cho C1 qua tài khoản Ngân hàng V1, số tài khoản là số điện thoại 0865.126.xxx của Cu. V đồng ý và đã nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V2 số tài khoản 106877823704 của Vàng đến tài khoản Ngân hàng V1 số tài khoản 0865126814 có tên ĐỊNH BINH. Vì nhiều lần mua ma túy và thời gian qua đã lâu nên V không nhớ cụ thể từng lần mua ma túy của Cu, cũng như khối lượng ma túy và số tiền là bao nhiêu. Lần cuối cùng V mua ma túy của C1 là khoảng 12 giờ 10 phút ngày 22/02/2025, V gọi điện thoại cho C1 hỏi mua 6.200.000 đồng ma túy đá.
3
Sau khi đã chuyển tiền cho C1, V liên hệ với tài xế taxi tên Nguyễn Văn C (Sinh năm 1993, trú tại khu phố C, phường Đ) qua tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0337.901.xxx để thuê chở vào thị trấn P với giá tiền 1.000.000 đồng nhưng không nói rõ cho C biết mục đích là đi mua ma túy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, C chở V đến khu vực vòng xoay tại thị trấn P, V nói C đi đâu một lúc khi nào về thì V gọi. Vàng liên hệ với C1, khoảng 45 phút sau C1 điều khiển xe máy hiệu Sirius màu xanh (không rõ biển số) đến đưa cho V 01 bịch nylon viền màu đỏ và 01 bịch nylon viền màu xanh dạng miệng khép dính đều có chứa ma túy đá, rồi C1 điều khiển xe rời đi. Vàng cất 02 bịch ma túy vào túi áo khoác mà V đang mặc rồi liên hệ với C chở V về. Khi đến khu vực trước Đ đường H thuộc khu phố C, phường Đ, V xuống xe lấy 02 bịch ma túy đá cầm trong tay phải rồi đi bộ về nhà. Trên đường đi thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tiến hành tra cứu thông tin khách hàng đăng ký số điện thoại 0865.126.xxx có tên là Đinh N (Sinh năm 1971, nơi thường trú: Khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận- Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng). Đồng thời tra cứu chủ tài khoản Ngân hàng V1, số tài khoản 0865126814 có tên là Đinh B (Sinh năm 1995, nơi thường trú: Khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận- Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng). Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập ông Đinh N đến để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, ông N khai nhận là cha ruột của Đinh B. Ông có đăng ký sử dụng 02 số điện thoại tại nhà mạng Viettel nhưng không nhớ cụ thể là số gì. Ông chỉ nhớ số điện thoại đầu tiên có hai số cuối là “14” số này ông đã bỏ không sử dụng và không biết ai đang quản lý sử dụng. Số điện thoại hiện tại ông đang sử dụng ông cũng chỉ nhớ hai số cuối là “40”. Tiến hành kiểm tra điện thoại của ông N thì chỉ gắn một sim số 0395986640, danh bạ, cuộc gọi không liên quan đến số 0865126814. Ông N khẳng định là không biết gì về việc Đinh B đã dùng số điện thoại 0865.126.xxx của ông để đăng ký số tài khoản Ngân hàng cũng như việc B có liên quan gì đến ma túy hay không thì ông hoàn toàn không biết. Ngoài ra, ông N còn khai nhận B bỏ nhà đi đã hơn 01 năm nay, không biết B đi đâu, làm gì. Tiến hành xác minh tại Công an xã P, tỉnh Lâm Đồng xác định Đinh B là con ruột của ông Đinh N, đến tại thời điểm xác minh thì B chưa có tiền án, tiền sự gì. Hiện tại, B không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì thì địa phương không rõ. Ngày 12/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ra Quyết định truy tìm người số 12123/QĐ-CSMT đối với Đ để phục vụ điều tra.
Tại Bản Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 01/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N (Nay là Công an tỉnh K) kết luận:
- + Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là: M1: 9,2439 gam; M2: 2,0952 gam.
4
- + Hoàn trả đối tượng sau giám định là: M1: 9,139 gam; M2: 2,0433 gam cùng toàn bộ bao gói gửi giám định.
Tại Bản Kết luận giám định số 82/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N (Nay là Công an tỉnh K), kết luận:
- + Trong mẫu gửi giám định trích xuất được 136 liên hệ danh bạ điện thoại; 1493 lịch sử cuộc gọi điện thoại; 299 tin nhắn điện thoại; 85 tập tin hình ảnh và 14 tập tin video trong bộ nhớ điện thoại; 452 tập tin hình ảnh và 30 tập tin video trong ứng dụng Telegram.
- + Trong mẫu gửi giám định có cài đặt các phần mềm ngân hàng trực tuyến: L1, V3, V4, MoMo, M, V, TPBank Mobile, H.
Toàn bộ dữ liệu được nén trong tập tin “Dữ liệu kèm theo Kết luận giám định số 82.rar", có mã MD5: C373967527813658EB05EE369FC8055A. Qua kiểm tra không phát hiện nội dung nào liên quan đến ma túy.
Vật chứng của vụ án:
01 gói niêm phong bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ đồ vật, bao gói theo Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 01/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh. Bên ngoài có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc T1, Đinh Quang T2, Lê Đình L và Phan Viết T3.
01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2011181, bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy làm bằng chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng xanh, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh. Bên ngoài có chữ ký và họ tên của Đỗ Hoàng T4, Phạm Khắc S và Nguyễn Hữu V.
Đây là những tang vật trong vụ án nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
01 túi niêm phong có mã số NS3 23003602, bên trong có 01 điện thoại hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu đen, gắn sim số 0384630506, số IMEI 1: 862208040169258, IMEI 2: 862208040169241. Bên ngoài có chữ ký và họ tên của Nguyễn Duy K, Phan Viết T3. Đây là tang vật trong vụ án nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
Đối với 01 gói niêm phong, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, màu trắng, không gắn sim, số IMEI 1: 354715682312181, IMEI 2: 354715681856881. Bên ngoài được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an T, chữ ký và họ tên của Đỗ Hoàng T4, Phạm Khắc S và Nguyễn Hữu V. Đây là điện thoại di động của bà Trần Thị Ú (Mẹ ruột của V), V mượn điện thoại của bà Ú để chơi game và xem phim, V không sử dụng điện thoại này
5
để liên lạc trao đổi việc mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra đề nghị trả lại cho bà Ú là có cơ sở. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 128/CT-VKSPRTC ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa, truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 22/02/2025, tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T (nay là tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa), Nguyễn Hữu V đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 11,3391 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Do
6
vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:
Ma túy là một trong những tệ nạn xã hội cần được bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.
Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine của bị cáo nhằm mục đích sử dụng là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật khi bị phát hiện sẽ bị trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với Đinh B theo lời khai của Nguyễn Hữu V thì V đã nhiều lần mua ma túy của B. Tuy nhiên, hiện tại B không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với B và chưa có căn cứ để xử lý B theo quy định của pháp luật. Xét thấy, dấu hiệu Mua bán trái phép chất ma túy giữa Nguyễn Hữu V và Đinh Bình X ra tại khu vực thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng). Mặt khác, B là người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm và có nơi thường trú tại khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Lâm Đồng). Căn cứ khoản 4, Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra Quyết định tách hành vi có dấu hiệu Mua bán trái phép chất ma túy của Đinh B, đồng thời chuyển nguồn tin có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L để điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là có cơ sở.
7
- Đối với hành vi của Võ Như Ý, cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N đã bắt giữ, điều tra xử lý trong vụ án khác nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
01 gói niêm phong bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ đồ vật, bao gói theo Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 01/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh. Bên ngoài có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc T1, Đinh Quang T2, Lê Đình L và Phan Viết T3 và 01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2011181, bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy làm bằng chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng xanh, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh. Bên ngoài có chữ ký và họ tên của Đỗ Hoàng T4, Phạm Khắc S và Nguyễn Hữu V.
Đây là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO của V, quá trình điều tra xác định là phương tiện V dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là có cơ sở.
Đối với 01 điện thoại Iphone, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Ú, V mượn bà Ú để xem phim và chơi game. Do đó, Cơ quan điều tra đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chủ sở hữu bà Trần Thị Ú là phù hợp.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu V 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
8
- + 01 gói niêm phong bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ đồ vật, bao gói theo Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 01/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N. Bên ngoài có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc T1, Đinh Quang T2, Lê Đình L và Phan Viết T3.
- + 01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2011181, bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy làm bằng chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng xanh, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh. Bên ngoài có chữ ký và họ tên của Đỗ Hoàng T4, Phạm Khắc S và Nguyễn Hữu V.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
01 điện thoại hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu đen, gắn sim số 0384630506, số IMEI 1: 862208040169258, IMEI 2: 862208040169241 trong một túi niêm phong ký hiệu NS3.23003602. Bên ngoài có chữ ký và họ tên của Nguyễn Duy K, Phan Viết T3.
Trả lại cho bà Trần Thị Ú: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, màu trắng, không gắn sim, số IMEI 1: 354715682312181, IMEI 2: 354715681856881 trong 01 gói niêm phong, bên ngoài được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an T - T, chữ ký và họ tên của Đỗ Hoàng T4, Phạm Khắc S và Nguyễn Hữu V.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K với Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/11/2025.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 5 – Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; NLQ - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu V bị phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
