|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 67/2025/HS-ST Ngày 15 – 04 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc Hải, bà Trịnh Lan Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Thị Kiều A, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 9 năm 1991 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: Số A, đường T, tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị B; có chồng là Trần Hồng Q và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Công ty B2. Địa chỉ: Tầng E, Tòa E, số B, đường T, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ – Giám đốc. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty B2, địa chỉ: Tầng E, tòa nhà E, số B, đường T, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội có mã số thuế 0103085460-014 là công ty T1 trực thuộc Tổng công ty cổ phần B3, được giao tự chủ kinh doanh và hạch toán độc lập tài chính, cuối năm thanh, quyết toán với Tổng công tB3.
Phan Thị Kiều A được Công ty B2 tuyển dụng làm việc tại Phòng kinh doanh khu vực Sơn La, địa chỉ: Số B, đường T, tổ E, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La từ ngày 01/6/2019 theo các hợp đồng lao động: Số 80/2019/HĐLĐ/BHS-TL-KTTH_ngày 01/6/2019; số 102B/2020/HĐLĐ/BHS-TL-KTTH ngày 01/6/2020; số 125/2021/HĐLĐ/BHS-TL-KTTH ngày 01/6/2021, đến tháng 9/2021 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc, ngoài nhiệm vụ của nhân viên kinh doanh, Kiều A được lãnh đạo Phòng kinh doanh phân công thực hiện nhiệm vụ: Tổng hợp, thu tiền bán bảo hiểm ô tô, xe máy do khách hàng, đại lý, cán bộ kinh doanh nộp để chuyển về Công ty theo quy định và hạch toán ấn chỉ bán được trên phần mềm. Tiền nộp về Công ty B2 được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản hoặc nộp tiền vào tài khoản của Công ty. Theo quy định, Kiều A có trách nhiệm thu, quản lý và nộp phí bảo hiểm về Công ty trước 17 giờ cùng ngày, trường hợp ngày lễ, tết, ngày nghỉ thì có thể kéo dài nhưng không quá 12 giờ ngày làm việc kế tiếp. Từ năm 2020 đến tháng 9/2021, Kiều A đã chiếm đoạt 250.439.560 đồng tiền phí bảo hiểm được giao trực tiếp quản lý bằng hình thức giữ lại tiền để chi tiêu cá nhân, không nộp về Công ty theo quy định.
1. Chiếm đoạt 79.626.160 đồng tiền phí bán bảo hiểm ô tô năm 2021 đối với 12 khách hàng.
Năm 2021, Công ty B2 có thỏa thuận về việc bán bảo hiểm xe cơ giới với Công ty cổ phần T2, ngân hàng S2 chi nhánh S3. Ngoài ra, việc bán bảo hiểm còn được giao cho các nhân viên kinh doanh Đinh Hải S, Phan Thị Kiều A. Vũ Đức H là nhân viên T2 trực tiếp nhận ấn chỉ từ K để bán cho các khách hàng có nhu cầu.
Theo quy định tại mục 2.2.4 Phụ lục số 01 kèm theo Quyết định số 41/2020/QĐ-BSHTL-KTTH ngày 20/02/2020 của Công ty B2 về giao định mức chi phí kinh doanh năm 2020 cho Phòng kinh doanh: “Những trường hợp bán bảo hiểm vật chất đối với các loại xe còn lại thì nhân viên kinh D1 sẽ được hưởng 20% giá trị bảo hiểm trước thuế (gồm 10% hoa hồng, 10% chi phí kinh doanh). Số tiền còn lại, sẽ phải nộp về Công ty để quyết toán. Đối với khách hàng mua qua hệ thống Ngân hàng S2 thì phí bảo hiểm đã thu của khách hàng phải nộp toàn bộ về Công ty B2, sau đó Công ty mới tính % chiết khấu và chuyển lại cho đơn vị khai thác bán bảo hiểm”. Kiều A đã chiếm đoạt tiền bán bảo hiểm do đại lý, nhân viên kinh doanh và do Kiều A trực tiếp bán bảo hiểm cho khách hàng, cụ thể:
- Chiếm đoạt 38.624.227 đồng tiền bán bảo hiểm do T2 khai thác và nộp về, gồm:
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/05736 ngày 19/7/2021 đối với khách hàng Ngô Xuân C1, giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 13.166.000 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng mà T2 được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 10.722.182 đồng nhưng đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/06081 ngày 05/8/2021 đối với khách hàng Điêu Thị L giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 6.628.500 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng mà T2 được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 5.423.318 đồng những đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/00644 ngày 21/01/2021 đối với khách hàng Đào Thị K giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 7.410.000 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng mà T2 được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 6.062.727 đồng những đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/01728 ngày 25/02/2021 đối với khách hàng Nguyễn Minh H1 giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 10.764.000 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng mà T2 được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 8.806.909 đồng những đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/02765 ngày 30/3/2021 đối với khách hàng Lò Văn P giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 9.300.000 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng mà T2 được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 7.609.091 đồng những đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- Chiếm đoạt 5.164.800 đồng là số tiền Vũ Đức H, nhân viên Công ty cổ phần T2 bán bảo hiểm theo Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/06357 ngày 28/8/2021 đối với khách hàng Đỗ Thị N, giá trị sau thuế ghi trên hợp đồng và ấn chỉ là 7.020.000 đồng. Sau khi trừ đi % hoa hồng được hưởng theo quy định, Kiều A đã nhận đủ số tiền 5.164.800 đồng nhưng đã chiếm đoạt, không nộp về công ty.
- Chiếm đoạt 25.834.689 đồng là tiền bán bảo hiểm do hệ thống Ngân hàng S2 khai thác và nộp về gồm:
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/03817 ngày 11/5/2021 đối với khách hàng Lù Văn C2 số tiền 11.153.689 đồng, Kiều A đã nhận đủ số tiền trên và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng đã chiếm đoạt.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/02192 ngày 19/3/2021 đối với khách hàng Cầm Việt Trinh số tiền 9.751.368 đồng. Kiều A đã nhận đủ số tiền và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng chỉ chuyển số tiền 5.051.368 đồng, đã chiếm đoạt số tiền 4.700.000 đồng.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/04894 ngày 22/6/2021 đối với khách hàng Nguyễn Ngọc A1 số tiền 6.981.000 đồng. Kiều A đã nhận đủ số tiền trên và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng đã chiếm đoạt.
- + Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/05914 ngày 26/7/2021 đối với khách hàng Lại Hữu T số tiền 3.000.000 đồng. Kiều A đã nhận đủ số tiền trên và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng đã chiếm đoạt.
- Chiếm đoạt số tiền do nhân viên kinh doanh Đinh Hải S bán cho khách hàng Lê Minh Đ1 (sau khi trừ 20% hoa hồng) theo Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/05737 ngày 16/7/2021. Kiều A đã nhận đủ số tiền trên và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng đã chiếm đoạt.
- Chiếm đoạt số tiền 6.072.444 đồng (đã trừ 20% hoa hồng) là tiền bị cáo trực tiếp bán bảo hiểm cho Phan Văn Đ2 theo Hợp đồng số 014-11/21/2G/HD/05737 ngày 16/7/2021. Kiều A đã nhận đủ số tiền trên và phải có trách nhiệm nộp về Công ty nhưng đã chiếm đoạt.
Kiều A đã nhận số tiền nêu trên thông qua tài khoản của Công ty B2 và tài khoản cá nhân của Kiều A tại ngân hàng B4, ngân hàng S2. Số tiền này, Kiều A đã dùng để nhập công nợ cho các hợp đồng trước đây bị cáo đã thu tiền của khách hàng nhưng chưa nộp về công ty và để tiêu xài cá nhân.
2. Chiếm đoạt tiền phí bán bảo hiểm xe máy năm 2020, 2021 đối với 6,718 ấn chỉ tương ứng số tiền 170.813.200 đồng.
Trong năm 2020 và năm 2021, Kiều A đã giao cho nhân viên kinh doanh, địa lý bảo hiểm tổng số 6.718 ấn chỉ xe máy và đã thu đủ số tiền phải nộp về Công ty theo quy định (nhân viên kinh doanh, đại lý phải nộp về 25.600 đồng/01 ấn chỉ loại 76.000 đồng và 22.800 đồng/01 ấn chỉ loại 66.000 đồng). Tuy nhiên, bị cáo đã chiếm đoạt, không nộp về công ty, cụ thể như sau:
- - Chiếm đoạt số tiền bán 453 ấn chỉ trị giá 11.591.200 đồng do nhân viên kinh doanh Đinh Hải S bán (gồm 451 ấn chỉ loại 76.000 đồng và 02 ấn chỉ loại 66.000 đồng);
- - Chiếm đoạt số tiền bán 1.800 ấn chỉ (gồm 1.601 ấn chỉ loại 76.000 đồng và 199 ấn chỉ loại 66.000 đồng) trị giá 45.522.800 đồng do nhân viên kinh doanh Cầm Hòa Bình bán;
- - Chiếm đoạt số tiền bán 1.855 ấn chỉ (gồm 1.854 loại 76.000 đồng và 01 ấn chỉ loại 66.000 đồng) trị giá 47.485.200 đồng do đại lý Nguyễn Duy M bán;
- - Chiếm đoạt số tiền bán 2.357 ấn chỉ (gồm 2.142 ấn chỉ loại 76.000 đồng và 215 ấn chỉ loại 66.000 đồng) trị giá 59.737.200 đồng do Đ3;
- - Chiếm đoạt số tiền bán 20 ấn chỉ (loại 76.000 đồng) trị giá 512.000 đồng do Lò Văn D (Nhân viên Ngân hàng S2 chi nhánh S3) bán;
- - Chiếm đoạt số tiền bán 30 ấn chỉ (loại 76.000 đồng) trị giá 768.000 đồng do Nguyễn Thị H2 (Nguyên nhân viên T2) bán;
- - Chiếm đoạt số tiền bán 100 ấn chỉ (loại 76.000 đồng) trị giá 2.560.000 đồng do đại lý Trần Ngọc Q1 bán; chiếm đoạt số tiền bán 09 ấn chỉ trị giá 230.400 đồng do bị cáo trực tiếp bán bảo hiểm nhưng không nộp về Công ty theo quy định.
Ngoài ra, bị cáo còn chiếm đoạt số tiền bán 94 ấn chỉ (loại 76.000 đồng) tương đương 2.406.400 đồng cho một số đại lý nhưng không xác định được là đại lý nào do không theo dõi trên sổ cấp phát mà chỉ theo dõi trên điện thoại và sổ tay cá nhân.
Tổng cộng bị cáo Phan Thị Kiều A phải nộp 170.813.200 đồng đã nhận từ các đại lý, nhân viên kinh doanh, cá nhân về công ty nhưng bị cáo đã không thực hiện mà chiếm đoạt sử dụng mục đích cá nhân. Theo quy định của Công ty B2, phải nộp toàn bộ số tiền bán bảo hiểm trong đó bao gồm cả 6% lương của cán bộ kinh doanh về Công ty sau đó Công ty mới hạch toán và chuyển lại tiền lương cho các nhân viên kinh doanh. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 170.813.200 đồng.
Về bồi thường dân sự: Công ty B2 yêu cầu bị cáo trả lại toàn bộ số tiền 250.439.560 đồng đã chiếm đoạt.
Cáo trạng số 32/CT-VKS-P3 ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Phan Thị Kiều A về tội Tham ô tài sản theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Phan Thị Kiều A khai nhận hành vi phạm tội và không khai báo gì thêm.
- Ý kiến của đại diện Công ty B2: Xác nhận bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty là tiền phí bán bảo hiểm ô tô và xe máy trong thời gian từ năm 2020 đến tháng 9/2021 do bị cáo trực tiếp quản lý, về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền chiếm đoạt là 250.439.560 đồng trừ đi số tiền 40.000.000 đồng mà bị cáo đã khắc phục trước phiên tòa cho công ty. Đối với số tiền trước đó công ty có công văn gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường số ấn chỉ bảo hiểm xe máy bị mất tổng cộng là 166 ấn chỉ x giá trị bồi thường 25.000đ/01 ấn chỉ = 4.150.000đ, tại phiên tòa hôm nay phía công ty rút yêu cầu không buộc bị cáo phải bồi thường số tiền trên. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, quan điểm luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kiều A phạm tội Tham ô tài sản.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị Kiều A từ 04 năm đến 05 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phan Thị Kiều A phải bồi thường cho Công ty B2 số tiền 250.439.560 đồng. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho công ty số tiền 40.000.000 đồng được nộp tại tài khoản tạm giữ của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận thêm. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo Phan Thị Kiều A được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Đơn tố giác tội phạm ngày 12/8/2024 của Công ty B2.
- - Quyết định số 24/2018/QĐ-BSHTL-KTTH ngày 22/02/2018 của Công ty B2 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Phòng kinh doanh bảo hiểm.
- - Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự - tự nguyện của chủ xe ô tô mà bị cáo và các đại lý đã bán cho các chủ xe.
- - Sổ theo dõi ấn chỉ năm 2020 + 2021 của Phòng bảo hiểm BSH S.
- - Sao kê lịch sử giao dịch của bị cáo Phan Thị Kiều A phát sinh tại tài khoản ngân hàng S4 mở tại Ngân hàng S2 chi nhánh S3 từ ngày mở tài khoản đến ngày 31/12/2021 chứng minh các lần chuyển số tiền bán được bảo hiểm của đại lý bán bảo hiểm cho bị cáo Phan Thị Kiều A.
- - Sao kê lịch sử giao dịch của bị cáo Phan Thị Kiều A phát sinh tại tài khoản ngân hàng S5 mở tại Ngân hàng B4 chi nhánh S3 từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2021 chứng minh các lần chuyển số tiền bán được bảo hiểm của đại lý bán bảo hiểm cho bị cáo Phan Thị Kiều A.
- - Sổ theo dõi ấn chỉ năm 2019, 2020, 2021 của Phòng B5.
- - Biên bản xác minh cơ chế quản lý tài chính của Công ty B2 năm 2020, năm 2021 xác định số tiền bán bảo hiểm xe cơ giới năm 2020, 2021 mà bị cáo Phan Thị Kiều A chiếm đoạt.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của ông Cầm Hòa B1, ông Đinh Hải S là nhân viên kinh doanh của công ty có trong hồ sơ vụ án; lời khai của các đại lý bán bảo hiểm về nội dung bàn giao ấn chỉ bảo hiểm, nộp tiền bán ấn chỉ bảo hiểm cho bị cáo Phan Thị Kiều A; phù hợp với các giao dịch chuyển tiền mua bảo hiểm của người mua bảo hiểm; kết quả xác minh thống kê số ấn chỉ bảo hiểm đã phát hành và thu tiền của khách hàng nhưng chưa nộp về công ty được bị cáo xác nhận và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ năm 2020 đến tháng 9/2021, Phan Thị Kiều A là nhân viên của Phòng kinh doanh khu vực Sơn La thuộc Công ty B2 được phân công thực hiện nhiệm vụ: “Tổng hợp, thu tiền bán bảo hiểm ô tô, xe máy do khách hàng, đại lý, cán bộ kinh doanh nộp để chuyển về Công ty theo quy định và hạch toán ấn chỉ bán được trên phần mềm. Tiền nộp về Công ty B2 được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản hoặc nộp tiền vào tài khoản của Công ty. Bị cáo Kiều A có trách nhiệm thu, quản lý và nộp phí bảo hiểm về Công ty trước 17 giờ cùng ngày, trường hợp ngày lễ, tết, ngày nghỉ thì có thể kéo dài nhưng không quá 12 giờ ngày làm việc kế tiếp”, tuy nhiên bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được phân công, cố ý chiếm đoạt tiền bán bảo hiểm ô tô, xe máy của công ty do mình trực tiếp quản lý với tổng số tiền 250.439.560 đồng.
[3] Về khung hình phạt áp dụng:
Bị cáo Phan Thị Kiều A đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền phí bảo hiểm của công ty B2 do mình trực tiếp quản lý với tổng số tiền 250.439.560 đồng, vi phạm tình tiết định khung quy định tại điểm c “Phạm tội 02 lần trở lên” và điểm d “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức kinh tế, gây mất trật tự an ninh kinh tế, an toàn xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên nhằm mục đích chi tiêu cá nhân.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước phiên tòa, bị cáo đã nộp một phần số tiền chiếm đoạt là 40.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố chồng là ông Trần Ngọc S1 có nhiều thành tích trong công tác, được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất; huân chương bảo vệ tổ quốc hạng ba; bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S; chiến sĩ thi đua cơ sở, giấy khen; tại phiên tòa, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy có đủ điều kiện áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, đảm bảo việc răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, phù hợp với chính sách hình sự được quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 về nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng. Xét đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ kết quả điều tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là Công ty B2 tổng số tiền 250.439.560 đồng. Buộc bị cáo Phan Thị Kiều A phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty số tiền trên.
Tại phiên tòa đại diện bị hại rút yêu cầu buộc bị cáo có trách nhiệm đền bù số ấn chỉ bảo hiểm xe máy bị mất tổng cộng là 166 ấn chỉ x giá trị bồi thường 25.000đ/1 ấn chỉ = 4.150.000đ. Xét việc rút yêu cầu trên của công ty là hoàn toàn tự nguyện, do đó cần chấp nhận. Trước khi xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả cho bị hại, do đó cần ghi nhận và đối trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường, buộc bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bị hại.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Thị Kiều A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kiều A phạm tội Tham ô tài sản.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Kiều A 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là: 250.439.560đ (Hai trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
Ghi nhận bị cáo đã hoàn trả một phần số tiền chiếm đoạt là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) cho bị hại đã nộp theo biên lai thu số 0002693 ngày 14/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn lại là: 210.439.560₫ (Hai trăm mười triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Thị Kiều A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.521.978 đồng (Mười triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày tuyên án (Ngày 15/4/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Kim Liên |
Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tham ô tài sản
- Số bản án: 67/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 05 năm tù
