Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày: 14/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vui

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Quản
  2. Ông Nguyễn Văn Tiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Lê Khánh D Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: A T, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở: 33 đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; con ông Lê Phúc K (không rõ năm sinh) và bà Bùi Ngọc R sinh năm 1968.

Tiền án:

  • Ngày 21/5/2020, bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 57/2020/HSST. Ngày 21/3/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 28/12/2022, bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 252/2022/HSST. Ngày 14/3/2024 chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 17/11/2016, bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 466/QĐ-TA. Ngày 07/12/2017 chấp hành xong.
  • Ngày 02/4/2018, bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 175/QĐ-TA. Ngày 30/6/2019 chấp hành xong.
  • Ngày 11/10/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G khởi tố về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 (có mặt)

2/ Họ và tên Nguyễn Thị Thu N; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1997; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 51/33/6 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 33 đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Ngọc M; có 01 con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 02/3/2020, bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 175/QĐ-TA. Ngày 06/5/2021 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Tuấn K1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: A ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 29/9/2024, tại trước địa chỉ nhà A A, Phường A, quận G, Tổ Công tác Công an P2, quận G phát hiện Ngô Tấn P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Kết quả xét nghiệm P dương tính với chất ma tuý. Qua làm việc, P khai nhận mua ma tuý của Nguyễn Thị Thu N tại khách sạn A.

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, Công an P2, quận G phối hợp Công an phường T, Quận A tiến hành kiểm tra hành chính phòng 102 khách sạn Anh Thành P1 tại địa chỉ C đường T, khu phố A, phường T, Quận A. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng 102 có Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N, đồng thời phát hiện trên giường có 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể, 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể, trong góc phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. D và N khai nhận 04 gói nylon chứa tinh thể nêu trên là ma tuý của D và N cất giấu nhằm bán cho người khác nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N khai nhận D và N chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Do bản thân nghiện ma tuý và ham lợi bất chính nên D và N đã cùng nhau mua bán trái phép chất ma tuý. D và N bán ma tuý cho nhiều người không rõ lai lịch, trong đó có Ngô Tấn P.

Khi cần ma tuý, Lê Khánh D sẽ liên hệ với tài khoản facebook mang tên “Bé H1” (D không rõ lai lịch) để mua ma tuý, sau đó phân chia thành các gói nhỏ và đưa cho Nguyễn Thị Thu N giao bán. D đã mua ma tuý của “Bé H1” 02 lần, lần đầu vào ngày 16/8/2024, D mua 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng, lần thứ hai vào khoảng 14 giờ ngày 23/9/2024, D mua 01 gói với giá 1.700.000 đồng. Các lần mua ma tuý, “bé H1” đều hẹn D ra Bến xe A để nhận ma tuý. Khi đến nơi thì mỗi lần sẽ có một người thanh niên khác nhau (D không rõ lai lịch) lại gần D, thả gói ma tuý xuống đất, sau đó D đưa tiền và người này bỏ đi, còn D quay lại khách sạn A.

Đến ngày 27/9/2024, Ngô Tấn P liên hệ với tài khoản Facebook “Nhà họ N1” của N để hỏi mua 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng. N đồng ý và hẹn giao ma tuý tại khách sạn A. Sau đó, N báo với D có người mua ma tuý, D lấy gói ma tuý đã mua của “Bé Heo” ngày 23/9/2024, phân chia thành 01 gói nhỏ và đưa cho N đem bán cho P. Số ma tuý còn lại, D chia thành 04 gói nhỏ rồi cất 02 gói vào hộp nhựa màu đen, 01 gói vào hộp giấy màu đỏ để trên giường.

Ngô Tấn P đã mua tổng cộng của Nguyễn Thị Thu N 03 lần, mỗi lần mua 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng, mỗi lần đều giao nhận ma tuý tại bên hông Khách sạn A. Số tiền hưởng lợi từ việc mua bán là 600.000 đồng, cả D và N đều đã tiêu xài hết.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N xác định D và N dương tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số 11577/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K3 Công an thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, có chữ ký ghi tên Lê Khánh D, Nguyễn Thị Thu N và hình dấu của Công an phường T, Quận A, bên trong có 04 gói nylon chứa tinh thể là ma tuý ở thể rắn có tổng khối lượng 5,8739 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 gói ma tuý niêm phong ghi vụ số 3587/24;
  • + 01 hộp giấy màu đỏ, 01 hộp nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly, 01 chai nhựa có gắn nỏ và ống hút, 10 gói nylon bên trong không chứa gì;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Lê Khánh D;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thị Thu N;
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh, biển số 62L1-037.73, số khung RLCE55P10BY011659, số máy 55P1011659.

Tại Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Lê Khánh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Thị Thu N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • * Các bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Khánh D từ 09 năm đến 10 năm tù.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma tuý niêm phong ghi vụ số 3587/24; 01 hộp giấy màu đỏ, 01 hộp nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly, 01 chai nhựa có gắn nỏ và ống hút, 10 gói nylon bên trong không chứa gì.
  • + Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Lê Khánh D; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thị Thu N;
  • + Đề nghị tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn nhất định đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh, biển số 62L1-037.73, số khung RLCE55P10BY011659, số máy 55P1011659 để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp, quá thời hạn nêu trên nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • * Các bị cáo không bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Khánh D nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình, chăm sóc con nhỏ.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu N nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình, chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cánh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét, biên bản đối chất, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính phòng 102 khách sạn A tại địa chỉ C đường T, khu phố A, phường T, Quận A phát hiện Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N có hành vi tàng trữ trái phép 5,8793 gam chất ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác. D và N khai nhận từ tháng 8/2024 đến ngày 27/9/2024, tại địa chỉ khách sạn A, D và N đã bán trái phép ma tuý cho nhiều người, trong đó có bán trái phép chất ma tuý cho Ngô Tấn P tổng cộng 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng. Tổng cộng số tiền mà D và N đã thu lợi bất chính là 600.000 đồng.

Như vậy, căn cứ lời khai của bị cáo Lê Khánh D, Nguyễn Thị Thu N, lời khai của Ngô Tấn P, cùng các biên bản đối chất giữa Ngô Tấn P và Nguyễn Thị Thu N, biên bản đối chất giữa Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N, biên bản nhận dạng, Hội đồng xét xử xác định Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N đã bán ma tuý 03 lần cho Ngô Tấn P, khối lượng ma tuý bị thu giữ là 5,8793 gam chất ma tuý loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 11577/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K3 Công an Thành phố H).

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận:

Đối với Nguyễn Thị Thu N đã có hành vi bán ma tuý 03 lần cho Ngô Tấn P, khối lượng ma tuý bị thu giữ để bán là 5,8793 gam chất ma tuý loại Methamphetamine đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Lê Khánh D, đã bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 57/2020/HSST ngày 21/5/2020. Ngày 21/3/2021 D đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích, nhưng lại tái phạm với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên ngày 28/12/2022, Lê Khánh D tiếp tục bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 252/2022/HSST. Ngày 14/3/2024 D chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích và tiếp tục thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” 03 lần cho Ngô Tấn P, khối lượng ma tuý bị thu giữ để bán là 5,8793 gam chất ma tuý loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Khánh D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo Lê Khánh D, Nguyễn Thị Thu N là có đồng phạm với nhau nhưng chỉ mang tính chất giản đơn, nhất thời, không có tổ chức.

[4] Khi thực hiện hành vi như đã nhận định ở trên, các bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là mầm mống phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân xấu, từng bị đưa đi cai nghiện nhưng lại tái nghiện, riêng bị cáo D còn có 02 tiền án về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị Công an Quận G khởi tố về tội “Cướp giật tài sản”. Do đó, phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo N tại thời điểm phạm tội đang mang thai, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017

[7] Xét thấy, hành vi của các bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N là có thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng nên buộc các bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N phải cùng nộp lại số tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước.

Đối với hình phạt bổ sung, căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Lê Khánh D và Nguyễn Thị Thu N.

[8] Đối với người tên “Bé heo” đã bán ma tuý cho Lê Khánh D không rõ lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với: 01 gói ma tuý niêm phong ghi vụ số 3587/24; 01 hộp giấy màu đỏ, 01 hộp nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly, 01 chai nhựa có gắn nỏ và ống hút, 10 gói nylon bên trong không chứa gì là vật cấm lưu hành, công cụ phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
  • + Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Lê Khánh D; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thị Thu N được các bị cáo sử dụng để liên lạc mua và bán ma tuý, là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh, biển số 62L1-037.73, số khung RLCE55P10BY011659, số máy 55P1011659, D khai sử dụng chiếc xe nêu trên để đi mua ma tuý từ “Bé H1”. Qua xác minh xe mô tô trên do ông Nguyễn Tuấn K2 đứng tên đăng ký, hiện ông K2 không có mặt ở nơi cư trú, cơ quan điều tra chưa làm việc được. Lê Khánh D khai nhận mua chiếc xe mô tô trên mạng, không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan điều tra đã đăng tin tìm chủ xe nhưng chưa có kết quả. Tuy chiếc xe nêu trên liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp chiếc xe nêu trên, giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh, biển số 62L1-037.73, số khung RLCE55P10BY011659, số máy 55P1011659, quá thời hạn nêu trên nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước

[10] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.

[11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Khánh D, Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Khánh D 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

    Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

  2. Buộc các bị cáo Lê Khánh D, Nguyễn Thị Thu N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 600.000 (Sáu trăm ngàn) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

    Buộc bị cáo Lê Khánh D nộp phạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng tịch thu sung quỹ Nhà nước.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu N nộp phạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma tuý niêm phong ghi vụ số 3587/24; 01 hộp giấy màu đỏ, 01 hộp nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly, 01 chai nhựa có gắn nỏ và ống hút, 10 gói nylon bên trong không chứa gì.
    • Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Lê Khánh D; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thị Thu N.
    • Giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh, biển số 62L1-037.73, số khung RLCE55P10BY011659, số máy 55P1011659, quá thời hạn nêu trên nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12)

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Khánh D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, bị cáo Nguyễn Thị Thu N phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - THADS Quận 12;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53 Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo, Người liên quan;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Vui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger