Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 67 /2025/HS-ST

Ngày 08 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Đặng Thu Vân
  • 2. Bà Lý Ngọc Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1345/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T; sinh năm 1990tại Tuyên Quang; nơi cư trú nơi cư trú (HKTT: 33 Chiến Thắng S, Tổ B, phường T, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quangchỗ ở: A Â, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Hồng T2; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/4/2017 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử lý vi phạm hành chính theo hồ sơ số 152XP0417/2110107, Số lưu trữ 1185XP18/21101V.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2024 đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, tổ tuần tra 363 Công an Quận 8 phát hiện Nguyễn Xuân T tại trước số F V Sông X, Phường B, Quận H có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, T không xuất trình được căn cước công dân nên tổ tuần tra mời T về trụ sở Công an P, Quận H làm rõ. Tại đây, qua xét nghiệm đối với T cho kết quả dương tính với ma tuý (MET). T khai nhận mua ma túy của một người có tài khoản Zalo tên “Ngân Vi” tại đường N, phường N, Quận A đem về nhà trọ của T địa chỉ A Â, Phường A, Quận H cất để dành sử dụng. Công an P, Quận H kết hợp với Công an P1, Quận H đưa T đến nhà trọ của T để kiểm tra. Qua kiểm tra, T lấy và giao nộp cho Công an 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (T khai nhận là ma túy đá để sử dụng). Tại thời điểm kiểm tra có Nhữ Thị Thanh H là người sống chung với T chứng kiến sự việc T giao nộp ma túy. H khai không biết T mua ma túy về phòng cất giữ để sử dụng. Lời khai của Huyền phù H1 với lời khai của T nên Công an P, Quận H lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Xuân T khai nhận như sau: Do cần ma túy để sử dụng, vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 12/9/2024, T sử dụng điện thoại di động liên hệ với zalo tên “Ngân Vĩ” (không rõ số điện thoại và lai lịch) hỏi mua ma tuý đá với số tiền 750.000 đồng. T và “Ngân Vi” hẹn giao nhận ma tuý tại đường N, phường N, Quận A. Sau đó, T đến điểm hẹn nhận 01 gói nylon chứa ma tuý từ một nam thanh niên giao hàng G (không rõ lai lịch) và thanh toán bằng tiền mặt cho nam thanh niên này với số tiền 750.000 đồng. Sau khi mua ma tuý, T mang về phòng trọ A8 địa chỉ A Â, Phường A, Quận H cất ở tầng thứ 3 của kệ giày trong phòng để khi cần thì sử dụng. Ngày 13/9/2024, T giao nộp ma túy cho Công an như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giảm định số 10764/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7661g (không phẩy bảy sáu sáu một gam), loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - 01 gói niêm phong ghi số 3329/24Q8 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân T và hình dấu Công an P1, Quận H các chữ ký ghi tên cán bộ Công an P, Quận H P và giám định viên Võ La Bảo Y, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động màu xám hiệu Iphone 11 gắn sim số 0778014892 là điện thoại của T dùng để liên lạc mua ma túy sử dụng, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-Q8 ngày 17/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túytheo điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa ma túy; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động màu xám hiệu Iphone 11 của bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua ma túy.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 13/9/2024, qua kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý cư trú, tại Phòng A8 nhà số A Â, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Xuân T có hành vi cất giữ trái phép 0,7661g (không phẩy bảy sáu sáu một gam), ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

[3] Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”

[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

[6] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Năm 2017, bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử lý vi phạm hành chính, thể hiện bị cáo có thái độ chấp hành pháp luật không tốt, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.

[8] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong chứa ma túy bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân T và hình dấu Công an P1, Quận H, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[10] 01 điện thoại di động màu xám hiệu Iphone 11 số IMEI: 353993105690985, gắn sim số 0778014892 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với người có tài khoản Zalo “Ngân Vĩ” và nam thanh niên giao hàng “Grab” bán ma túy cho bị cáo T do không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[12] Đối với Nhữ Thị Thanh H chung sống với bị cáo T phòng trọ A8 địa chỉ 1 Â, Phường A, Quận H không biết bị cáo T mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự là có cơ sở.

[13] Bà Võ Thị H2 là người quản lý, sử dụng và đứng tên đăng ký kinh doanh nhà số A Â, Phường A, Quận H. Việc bị can T có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại nhà trên thì bà H2 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túyThời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/9/2024.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 221, 228 Bộ luật Dân sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) gói niêm phong ghi số 3329/24Q8 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân T và hình dấu Công an P1, Quận H các chữ ký ghi tên cán bộ CAP2Q8 Phạm Đức C1 và giám định viên Võ La Bảo Y.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động màu xám hiệu Iphone 11 số IMEI: 353993105690985, gắn sim số: 0778014892, đang sử dụng.

(Tất cả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 09/01/2025).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận 8;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - CQĐT CA TP. HCM;
  • - CQ THA HS CA TP. HCM ;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Quận 8-
  • Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Chi cục THA DS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác
  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - PC06;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 13/9/2024, qua kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý cư trú, tại Phòng A8 nhà số A Â, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Xuân T có hành vi cất giữ trái phép 0,7661g (không phẩy bảy sáu sáu một gam), ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger