TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 67/2025/HS-PT Ngày 23 – 6 – 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Đoan Trang
- Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai
Ông Nguyễn Xuân Trọng
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 78/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T, sinh ngày 10/5/1985 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Cao Thị N; có vợ là Đặng Thị P và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Mạnh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị P không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/10/2024, Trần Văn T đang ở nhà và lên mạng xã hội Facebook thì thấy có tài khoản (không nhớ tên cụ thể) đăng bán pháo hoa nổ. Do có nhu cầu sử dụng nên Thanh bình L hỏi mua. Sau đó, xuất hiện tài khoản Zalo tên “Nguyen Hung” kết bạn với T, gửi ảnh chụp các hộp pháo nổ để trao đổi mua bán với T. Qua ứng dụng Zalo, T nhắn tin và gọi điện hỏi mua pháo nổ thì người này đồng ý bán cho T. T đi đến nhà của Nguyễn Mạnh T2, rủ T2 cùng đi mua pháo nổ, T2 đồng ý. T gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo với tài khoản tên “Nguyen Hung” để hỏi mua 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 ống phóng thì người này đồng ý bán cho T với giá 1.200.000 đồng và hẹn T ngày 19/10/2024 đến huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi, mua bán pháo nổ. Đến khoảng 15 giờ ngày 19/10/2024, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của tài khoản tên “Nguyen Hung” qua ứng dụng Z, người này hẹn T khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày đến cổng chào huyện Y để mua bán pháo nổ thì T đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, BKS 88F1 - 553.63 của chị Đặng Thị P, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (là vợ của Trần Văn T) đến nhà T2 đón đi cùng. T chở T2 đến khu vực cổng chào huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp người có tài khoản Zalo tên “Nguyen Hung”, khoảng 35 tuổi (không rõ lai lịch), đi trên 01 xe mô tô Honda Wave (không rõ biển kiểm soát). Người này đưa T và T2 đến khu vực nghĩa trang thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, T2 đưa cho người này số tiền 1.200.000 đồng, còn người đàn ông mang ra 01 (một) thùng bìa các tông, bên trong có 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 ống phóng rồi phóng xe bỏ đi. T2 ôm thùng bìa các tông chứa số pháo nổ trên để lên giá để hàng phía trước xe mô tô BKS: 88F1-553.63 của T để mang về nhà thì đúng lúc này tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện T và T2 có hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo nổ). Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ, lập biên bản sự việc, niêm phong tang vật có liên quan, cụ thể như sau:
- - Thu giữ trên giá để hàng phía trước xe mô tô BKS 88F1-553.63 của Trần Văn T 01 (một) thùng bìa các tông, bên trong có 05 (năm) khối hộp, bên ngoài đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, 04 (bốn) mặt xung quanh của 05 (năm) khối hộp này đều in chữ nước ngoài, bên trong 05 (năm) khối hộp đều có 36 (ba mươi sáu) ống hình trụ tròn bằng giấy được gắn kết, có 01 (một) dây dẫn thò ra ngoài.
- - Tạm giữ của Trần Văn T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, BKS 88F1-553.63 đã cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng.
- T và T2 khai nhận 05 (năm) khối hộp trên là pháo nổ của T và T2, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Cơ quan Công an tiến hành niêm phong 05 (năm) khối hộp trên trong thùng bìa các tông ký hiệu A1 và lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn T. Quá trình kiểm tra xác định:
- - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng có số IMEI là 868744051315137, 868744051315129 có lắp kèm thẻ sim có in hàng số 8984048000913201813 (thẻ sim trên có số thuê bao là 0367.434.688 đăng ký chính chủ đứng tên của Trần Văn T).
- - Kiểm tra mục ứng dụng Zalo phát hiện tin nhắn giữa tài khoản Zalo tên “Giấc Mơ Trưa” (Trần Văn T khai nhận là tài khoản của bản thân sử dụng) với tài khoản Zalo tên “Nguyen Hung” phát hiện tin nhắn, cuộc gọi có liên quan đến việc trao đổi mua bán pháo nổ.
Trần Văn T khai nhận vào các ngày 18,19/10/2024, T đã sử dụng ứng dụng Zalo, đăng nhập tài khoản có tên “Giấc Mơ Trưa” của bản thân để trao đổi, mua bán pháo nổ với tài khoản của nam giới bán pháo có tên “Nguyen Hung”. Người này đã nhắn tin đến tài khoản Zalo của T trước, T không hề biết số điện thoại của người này, truy cập vào phần thông tin của tài khoản “Nguyen Hung” cũng không có thông tin gì.
Cơ quan điều tra đã in 08 bản ảnh chụp màn hình điện thoại trên khổ giấy A4 của Trần Văn T liên quan đến việc trao đổi mua bán trái phép pháo nổ như nêu trên, tiến hành niêm phong 01 (một) chiếc điện thoại di động trên trong phong bì thư ký hiệu A2 và lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 1618/QĐ-ĐCSHS-KTMT gửi Phòng K Công an tỉnh V trưng cầu mẫu ký hiệu A1 có phải là pháo không? Nếu là pháo thì là loại pháo gì? Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là bao nhiêu?
Ngày 24/10/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 3053A/KLGĐ, kết luận:
“05 (năm) khối hộp của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 6,838kg (sáu phẩy, tám ba tám kilôgam, không kể hộp giấy catton niêm phong).
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: 3,526kg mẫu và bao gói được niêm phong kín, trên tem niêm phong có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh V.”.
Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 1662/QĐ-ĐCSHS-KTMT gửi Phòng K Công an tỉnh V trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nêu trên, trích xuất dữ liệu tin nhắn đi và đến trên ứng dụng Zalo của mẫu gửi giám định thời gian từ 00 giờ 00 ngày 17/10/2024 đến 18 giờ 30 ngày 19/10/2024 giữa tài khoản Zalo “Giấc Mơ Trưa” và tài khoản “Nguyen Hung".
Ngày 18/11/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 3290/KL - KTHS, kết luận:
“Trích xuất được 11 ảnh màn hình điện thoại là tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo tên “Giấc Mơ T3” với tài khoản Zalo lưu tên “Nguyen Hung” trong thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 17/10/2024 đến 18 giờ 30 phút ngày 19/10/2024."
Nội dung các tin nhắn này thể hiện việc trao đổi mua bán pháo nổ giữa Trần Văn T và tài khoản Zalo lưu tên “Nguyen Hung” như T đã khai nhận nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo nội dụng các kết luận trên cho T và T2, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 08 (T4) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T2, xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/3/2025, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T làm trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan, hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, tại khu vực nghĩa trang C thuộc thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện Trần Văn T và Nguyễn Mạnh T2 có hành vi tàng trữ 05 khối hộp pháo theo kết luận giám định là loại pháo nổ có tổng khối lượng là 6,838kg.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý các loại hàng hóa cấm kinh doanh, cấm lưu hành, sử dụng. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật và không oan sai.
- Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án 08 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bị cáo tàng trữ pháo nổ với mục đích sử dụng, nhất thời phạm tội do ham vui, không có mục đích kinh doanh tư lợi. Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện bố bị cáo là người có công với cách mạng, đã có thời gian dài tham gia thanh niên xung phong; mẹ bị cáo bị bệnh thần kinh, hoàn cảnh gia đình khó khăn dựa vào bị cáo là lao động chính duy nhất. Do vậy, ngoài hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung, tạo điều kiện giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội. - Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Đoan Trang |
Bản án số 67/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 67/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Tàng trữ hàng cấm
