|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/HS-PT Ngày: 07 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chương
- Các Thẩm phán: Ông Lưu Ngọc Cảnh
- Ông Nguyễn Đăng Phong
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lý Minh Chính - Thư ký Toà án
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
- Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 90/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Lưu Thị H do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 331/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Lưu Thị H, SN 1980; HKTT: TDP 3, H, Phường P, Quận N, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thuê trọ tại chung cư C X, Phường D, Quận C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lưu Văn H1, con bà Trần Thị L; Có chồng là Nguyễn Cao Q (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; D, chỉ bản số: 254 lập ngày 16/5/2024 tại Công an Quận B, Thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H (Có mặt).
Người bị hại không kháng cáo: Anh Hà Ngọc P - SN 1980; HKTT: Tổ 15 D, Cầu G, Hà Nội (Vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Anh Lưu Mạnh Q1, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h ngày 10/05/2024, anh Hà Ngọc P (SN 1980, HKTT: Tổ 15 D, Cầu G, Hà Nội) đưa Lưu Thị H đến Công an phường C, quận B, TP . tố giác Hiên có hành vi lừa đảo anh P số tiền 250 triệu đồng qua hình thức làm hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động tại Úc.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 giấy biên nhận tiền ngày 06/3/2024 có chữ ký của Lưu thị H và anh P; 01 điện thoại Iphone 8 plus màu vàng hồng lắp sim thuê bao số 0328928186, số imei 35301109521312 (Thu giữ của Lưu Thị H).
Bản Kết luận giám định số: 5424 ngày 02/8/2024 của V Bộ C1 kết luận: Chữ lý “Hiên” giáp lai giữa 2 tờ và chữ ký, chữ viết đứng tên Lưu Thị H ở phía dưới 2 tờ mẫu cần giám định so với chữ ký chữ viết đứng tên Lưu Thị H trên các mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra.
Quá trình điều tra xác định:
Khoảng tháng 9/2023, Lưu Thị H quen anh P trên một chuyến bay từ S ra Hà Nội. Quá trình quen biết, H tự giới thiệu bản thân là giám đốc tuyển sinh cho các trường Đại học và Cao đẳng toàn quốc kết hợp với đại sứ quán Ú. Hiên còn liên kết với công ty I địa chỉ số A đường E L, T, TP . đưa người đi xuất khẩu lao động. Sau đó H đưa ra thông tin có xuất đi lao động tại phổ thông tại Úc không cần tiếng Anh, mỗi xuất giá 360 triệu, đặt cọc trước 50 triệu để làm hộ chiếu và visa. Sau 02 ngày nhận tiền đặt cọc H sẽ chuyển cho anh P phiếu thu của công ty và các tài liệu pháp lý của công ty đưa người đi xuất khẩu lao động tại Úc. Anh P tin tưởng nhờ H làm thủ tục cho 5 người nhà của anh P đi Úc.
Ngày 06/3/2024, tại quán C2 ngõ B đường H, C, B, Hà Nội, Anh P1 yêu cầu H ký vào giấy biên nhận do anh P1 soạn sẵn với nội dung: H nhận 250 triệu của anh P1 để xin visa cho 5 người đi làm việc tại Úc có hợp đồng lao động và bảo hiểm đầy đủ theo quy định của nước sở tại. Thời hạn hoàn thiện hồ sơ, thủ tục là 3 tháng từ 6/3/2024 đến 6/6/2024. Nếu hết ngày 06/6/2024 mà không có visa cho 5 người thì H phải trả lại 250 triệu cho anh P1. Sau khi H ký giấy biên nhận tiền, anh P1 sử dụng tài khoản của ngân hàng B có số: 21710000703371 chuyển số tiền 250.000.000 đông đến tài khoản của ngân hàng V1 mang tên Lưu Thị H (Số tiền này của anh P1 nộp hộ người nhà) và đưa cho H căn cước công dân của người nhà anh P1 gồm: Anh Hồ Nguyên P2 (SN: 1986, địa chỉ Thị xã B, B, Quảng Ninh ); Nguyễn Văn P3 ( SN:1989, Địa chỉ: V, G, Bắc Ninh); Nguyễn Quang H2 ( SN: 1980, địa chỉ: V, G Bắc Ninh); Đinh Xuân T ( SN: 1989) và Lê Thanh T1 (SN: 1987, Địa chỉ: Q, B, Quảng Bình). Hiên mang 5 căn cước trên đi phô tô rồi trả lại bản gốc cho anh P1.
Ngay sau khi nhận tiền của anh P1, H sử dụng tiền để trả nợ, trả tiền thuê nhà, chi tiêu sinh hoạt hết. Do H không thực hiện việc đưa phiếu thu và tài liệu pháp lý của công ty như đã hứa hẹn nên anh P1 nhiều lần gọi cho H thúc dục thì H chặn liên lạc với anh P1.
Sau đó, để đối phó với anh P1 nên khoảng tháng 4/2023, H đã lên mạng xã hội tìm hiểu việc đưa người đi xuất khẩu lao động tại Úc và được 01 người không quen biết giới thiệu cho facebook có tên “Kim Dung”. H đã dùng facebook “Hoa Anh Đ” liên hệ với facebook “Kim Dung” và được “Kim D1” báo phí đi xuất khẩu lao động Úc cho 01 người là 175.000.000đ. Theo yêu cầu của “Kim Dung”, H đã gửi hình ảnh căn cước công dân của 5 người nhà anh P1 cho “Kim D1” kèm theo số tiền 8.500.000đồng để làm visa. Số tiền 8.500.000đ, H chuyển từ tài khoản của H đến tài khoản số [...] ngân hàng VIB mang tên Hoàng Vinh Q2 thì nhận được hình ảnh phiếu thu của công ty I1 có văn phòng tại số B L có người kí đóng dấu là Yoshida M. Sau đó “Kim D1” giới thiệu cho H 01 người có facebook tên “Minh N” và nói là trưởng phòng quản lý nhân sự của công ty I1 nên H đã liên hệ với “Minh Nhật”. Do facebook “Hoa Anh Đào” của H bị lỗi nên H sử dụng facebook “TUYỂN SINH” để liên hệ với facebook “Kim Dung” và “Minh N”. Toàn bộ quá trình H liên hệ với “Kim Dung” và “Minh Nhật” đều qua ứng dụng Messenger chứ Hiên chưa hề gặp những người này.
Đến ngày 27/4/2024, H chủ động gọi cho anh P1 yêu cầu nộp thêm 150 triệu là tiền khám sức khỏe của 5 người và gửi hình ảnh "hồ sơ ứng viên" của công ty I1 thể hiện 05 người nhà của anh P1 đã được công ty Il tuyển đi Úc. Ngày 28/4/2024, H gửi cho anh P1 số điện thoại của "Kim Dung" nói là người của công ty I1 để anh P1 xác nhận việc công ty I1 yêu cầu nộp 150 triệu. Anh P1 liên hệ với “Kim Dung” thì “Kim Dung” nói cần phải đóng một số lệ phí, cụ thể thế nào cứ làm việc với H.
Đến ngày 10/5/2024 anh P1 gặp H ở quán café ngõ B H, yêu cầu H phải đưa phiếu thu và tài liệu của công ty thì H không có. H gọi điện cho “Kim D1” và đưa điện thoại cho anh P1 nói chuyện thì “Kim D1” nói không biết anh P1 là ai, chỉ làm việc với H. Anh P1 nghi ngờ bị lừa đảo nên đã gọi điện báo cảnh sát 113 thì được hướng dẫn báo C3. Anh P1 đã đưa H đến công an phường C trình báo sự việc. Số điện thoại của Kim D1 cả H và anh P1 đều không nhớ và không lưu ở điện thoại.
Tại cơ quan điều tra, Lưu Thị H khai nhận hành vi của mình như trên và khai mới học hết lớp 7/12, đã ly hôn chồng từ năm 2007. Hàng ngày H đi làm thuê tại các hàng ăn và quán cà phê để nuôi con (Sinh năm 2005) bị mắc bệnh tan máu bẩm sinh. Do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên H đã hứa hẹn làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động cho người nhà anh P1. H không biết gì về quy trình đưa người đi xuất khẩu lao động. Hiên đã nghe qua người tên “H3” là giám đốc công ty I ở số A, đường L, quận I, TP T, TP HCM nói về việc để đưa một người đi nước ngoài cần 50 triệu và căn cước công dân nên H đã bảo anh P1 đặt cọc 5 người mỗi người 50 triệu và nộp căn cước công dân cho H.
Xác minh tại công an phường N, quận B xác định: Công ty TNHH I1 kinh doanh về dược phẩm và thương mại tại CP2 tầng 10 tháp 2 Capital số 29 L, N, B, Hà Nội. Xác minh tại công ty I1 không có ai là Kim D1, Minh N và Hoàng Vinh Q2. Xác minh tại công ty I ở số A, đường L, quận I, TP T, TP HCM không có ai là Lưu Thị H - SN 1980 cư trú tại TDP C, Hoè Thị, Phương C đã làm việc tại đây.
Ngân hàng V2 cung cấp thông tin chủ tài khoản 829302344 mà H đã chuyển 8.500.000đồng mang tên Hoàng Vinh Q2 (SN 2005 địa chỉ: số F H, phường A, quận H, TP HCM). Anh Q2 trình bày: Khoảng tháng 2/2024, anh mở tài khoản trên rồi bán cho một người không quen biết qua mạng với giá 1.000.000 đồng. Anh Q2 không sử dụng tài khoản này và không biết ai tên là Lưu Thị Hiên .
Bản án hình sự sơ thẩm số 331/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội tuyên bố bị cáo Lưu Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm b,s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lưu Thị H 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2024. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên không xét. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo.
Ngày 26/12/2024, bị cáo Lưu Thị H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo đã đề nghị:
- + Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo và trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.
- + Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khai nhận tội như ở cấp sơ thẩm. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên việc Toà án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt 6 năm tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Cụ thể: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/05/2024. Về dân sự: Do bị hại đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu, đề nghị gì khác, không kháng cáo bản án sơ thẩm nên đề nghị xem xét; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lưu Mạnh Q1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại, không kháng cáo bản án sơ thẩm nên đề nghị không xem xét. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.
[2] Về nội dung:
Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo như sau:
Bị cáo Lưu Thị H là lao động tự do, không làm việc hay liên kết với cơ quan tổ chức nào có chức năng đưa người đưa đi lao động ở nước ngoài nhưng bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối như tự giới thiệu bản thân là giám đốc tuyển sinh cho các trường Đại học và Cao đẳng toàn quốc kết hợp với đại sứ quán Ú rồi hứa hẹn làm thủ tục cho 5 người nhà của anh Hà Ngọc P đi lao động tại Úc. Anh Hà Ngọc P tin là thật, đã tự nguyện chuyển cho bị cáo Lưu Thị H số tiền 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 06/3/2024, tại quán cà phê trong ngõ B đường H, C, B, Hà Nội. Ngay sau khi nhận tiền của anh P, bị cáo H đã không sử dụng số tiền trên để nộp vào cơ quan tổ chức đưa người đi xuất khẩu lao động mà bị cáo đã sử dụng số tiền trên vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong khu vực, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, mục đích tư lợi, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 250.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 06 năm tù là có phần nghiêm khắc nên cần sửa bản án sơ thẩm để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Thị Hiên .
Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 331/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Thị H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/05/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chương |
Bản án số 67/2025/HS-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 67/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15h ngày 10/05/2024, anh Hà Ngọc P (SN 1980, HKTT: Tổ 15 D, Cầu G, Hà Nội) đưa Lưu Thị H đến Công an phường C, quận B, TP . tố giác Hiên có hành vi lừa đảo anh P số tiền 250 triệu đồng qua hình thức làm hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động tại Úc.
