Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:67/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 tháng 6 năm 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 264/2025/TLST HNGĐ việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” ngày 21 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Dương Thị Bảo T, sinh năm 2000.
  • Địa chỉ: Số F, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995.
  • Địa chỉ: Số A, đường L, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • (Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn ngày 19/3/2021, đăng ký kết hôn tại UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, tuy nhiên cũng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ. Đến khoảng cuối năm 2024 thì mâu thuẫn xảy ra nhiều hơn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra căng thẳng cãi nhau, đã có vài lần xảy ra xô xát cãi vã nhau, anh H nhiều lần có lời nói, hành động xúc phạm. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trở lên trầm trọng, không thể nào tiếp tục chung sống với nhau nữa, gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng không được. Đầu năm 2024, mâu thuẫn vợ chồng trở lên trầm trọng, nên đã sống ly thân nhau, chị đã về ở cùng với bố mẹ đẻ, không còn bất kỳ mối quan hệ gì về tình cảm, kinh tế với anh H. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh H.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022. Hiện cháu H1 do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cháu H1 cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc vì anh H không quan tâm đến con cái, thường xuyên đi làm về muộn, ngoài ra cháu H1 còn nhỏ, đang trong giai đoạn phát triển, cần sự chăm sóc, dạy dỗ của mẹ nên ở với tôi sẽ tốt hơn. Hiện nay chị đang ở tại nhà bố mẹ đẻ tại Thôn T, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chị làm công việc kinh doanh với mức thu nhập ổn định 7.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng/tháng. Trường hợp được quyền nuôi con, chị đề nghị anh H cấp dưỡng để chị nuôi con với mức 3.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là anh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dương Thị Bảo T kết hôn ngày 19/3/2021, đăng ký kết hôn tại UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng cùng sinh sống với bố mẹ anh tại địa chỉ: Số A, đường L, tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên cũng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ. Đến khoảng cuối năm 2024 thì mâu thuẫn xảy ra nhiều hơn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra căng thẳng cãi nhau, hai bên gia đình động viên hoà giải nhưng không được, nên vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 01/2025, đến khoảng tháng 03/2025 thì chị T ra ngoài sinh sống. Do mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trở nên trầm trọng và chị T có nộp đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022. Hiện cháu H1 do anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cháu H1 cho anh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng bởi vì chị T không có trách nhiệm, không quan tâm gì đến con, thường xuyên đi đến đêm muộn, có những đêm không về nhà, ngoài ra chị T còn nợ nên không đủ khả năng để nuôi con. Hiện nay anh đang làm công việc tự do, thu nhập, thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng nên đủ khả năng để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H1. Về cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu H1.

* Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Tại Biên bản xác minh ngày 03/7/2024, tổ dân phố T, phường X thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cung cấp như sau: Chị T và anh H là vợ chồng, sinh sống tại địa phương, vợ chồng có 01 con chung, việc mâu thuẫn vợ chồng cũng như con chung hiện ở với ai địa phương không nắm rõ. Nay chị T xin ly hôn tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa,

Chị T trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh H. Về con chung: Vợ chồng 01 con chung là cháu Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022. Chị đề nghị giao chị chăm sóc nuôi dưỡng con chung và chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, tính từ khi xét xử sơ thẩm, hiện nay chị làm việc kinh doanh tự do thu nhập trung bình 9.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh H trình bày: Anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T vì con chung còn nhỏ, trường hợp chị T để cho anh được quyền nuôi con thì anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022, hiện nay đang ở với anh từ khi chị T về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 4/2025; anh đề nghị được quyền nuôi con chung và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, hiện nay anh đi làm tự do, thu nhập hơn 10.000.000 đồng/tháng. Trường hợp Tòa án giao cho chị T nuôi con, thì anh đồng ý mức cấp dưỡng như chị T yêu cầu. Về tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn cơ bản đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX xử như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Bảo T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

+ Về con chung: Giao cho chị Dương Thị Bảo T quyền chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022. Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Dương Thị Bảo T 3.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2025 đến cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi.

+ Về án phí: Chị Dương Thị Bảo T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự đều có địa chỉ tại thành phố B. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Chị T đề nghị được ly hôn, anh H không đồng ý, nhưng anh khai nếu anh được quyền nuôi con thì anh đồng ý lý hôn, Hội đồng xét xử xét thấy việc vợ chồng thực tế mâu thuẫn và đã sống ly thân, hai bên chỉ còn quan tâm đến chăm sóc, nuôi dưỡng con chung mà không còn quan tâm đến tình cảm giữa hai vợ chồng, chị T cương quyết xin ly hôn, đã được Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng không được, chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị T và anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

- Về quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định chị T và anh H có 01 con chung cháu Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022, hiện nay đang ở cùng anh H. Xét về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy chị T và anh H đều xác định có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập ổn định, cả hai đều đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022, mới được 3 tuổi 21 ngày, còn rất nhỏ, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ bữa ăn, giấc ngủ, sinh hoạt hàng ngày, nên người mẹ, người phụ nữ sẽ đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn người cha. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường và điều kiện tốt nhất cho cháu H1, cần thiết giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81,82,83,110 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, anh H đồng ý cấp dưỡng như chị T yêu cầu trong trường hợp chị T được giao chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Nên chấp nhận yêu cầu này của chị T.

- Về quyền thăm nom con chung: Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh anh H thực hiện quyền này.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điềm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81,82,83,110 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Bảo T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Chị Dương Thị Bảo T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Dương Gia H1, sinh ngày 06/6/2022. Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Dương Thị Bảo T 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng/tháng), thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2025 đến cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi.
  3. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
  4. Về án phí: Chị Dương Thị Bảo T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0002631 ngày 21/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND phường Xương Giang, thành phố
  • Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Mạnh Thắng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trang - Hoàng "Ly hôn"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger