|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2025/TLST - HNGĐ ngày 10-02-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06-5-2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lường Thị H, sinh năm 1997. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Lò Văn P, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Đều trú tại: Bản T, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La.
(Anh Lò Văn P hiện đang cai nghiện ma túy tại Điểm vệ tinh TC thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Lường Thị H trình bày:
Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 12/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lò Văn P nghiện ma túy, không chịu làm ăn, chị H đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Lò Văn P đang cai nghiện ma túy tại Điểm vệ tinh TC thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn P.
Về con chung: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P có 02 con chung: Cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 và cháu Lò Mạnh C, sinh ngày 07/3/2021.
Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Lò Văn P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị H cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai, bị đơn anh Lò Văn P trình bày (Có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La):
Anh Lò Văn P và chị Lường Thị H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn đúng như chị Lường Thị H trình bày. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận đến thời gian anh Lò Văn P vào cơ sở cai nghiện ma túy thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Lò Văn P xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí ly hôn với chị Lường Thị H.
Về con chung: Anh Lò Văn P và chị Lường Thị H có 02 con chung: Cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 và cháu Lò Mạnh C, sinh ngày 07/3/2021.
Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Anh P cam đoan không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 13/3/2025 xác định: Anh Lò Văn P và chị Lường Thị H kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau tại Bản T, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh Lò Văn P nghiện ma túy. Anh Lò Văn P và chị Lường Thị H có 02 con chung đang ở với chị H. Chị Lường Thị H có khả năng và điều kiện nuôi con.
Ý kiến của cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 (Biên bản ghi ý kiến ngày 22/4/2025): Cháu Lò Mai D có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị H.
Chị Lường Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị H giữ nguyên ý kiến như trong đơn khởi kiện và bản tự khai, yêu cầu miễn án phí.
Anh Lò Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La): Anh P giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về tình cảm: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Lò Văn P.
Về con chung: Giao cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 và cháu Lò Mạnh C, sinh ngày 07/3/2021 cho chị Lường Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lường Thị H theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lường Thị H yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn P có địa chỉ nơi cư trú tại Bản T, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lường Thị H, bị đơn anh Lò Văn P vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị H và anh P là vợ chồng hợp pháp. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh P nghiện ma túy, không chịu làm ăn, chị H đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lò Văn P hiện đang cai nghiện ma túy tại Điểm vệ tinh TC thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu ly hôn với anh Lò Văn P. Anh Lò Văn P nhất trí ly hôn với chị Lường Thị H.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa, cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị H và anh P không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P nghiện ma túy, bỏ bê không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chị H đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P không nghe dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lường Thị H ly hôn với anh Lò Văn P.
[3] Về con chung: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P có 02 con chung là cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 và cháu Lò Mạnh C, sinh ngày 07/3/2021. Hiện tại cả hai cháu đang sống cùng chị Lường Thị H.
Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu. Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Ý kiến của cháu Lò Mai D có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị H.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của cháu Lò Mai D có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị H. Anh Lò Văn P đang cai nghiện ma túy nên không có điều kiện nuôi con. Chị H có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị H đảm đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng các cháu về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Lò Mai D và cháu Lò Mạnh C cho chị Lường Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Lường Thị H là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Do đó, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị H. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Lò Văn P.
- Về con chung: Giao cháu Cháu Lò Mai D, sinh ngày 10/6/2015 và cháu Lò Mạnh C, sinh ngày 07/3/2021 cho chị Lường Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con (anh P) có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh P thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn P xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị H.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị H, anh Lò Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Thịnh |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giải quyết ly hôn, nuôi con chung
