TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày 20/06/2025 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Len
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 20 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXX-ST ngày 09/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990
HKTT: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Đường T, thị trấn B, huyện T, Đài Loan (Trung Quốc)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Chị N, anh Đ đều xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt cùng các tài liệu chứng cứ có xác nhận đã xuất trình của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quang Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là Ủy ban nhân dân xã S), huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 06/2012, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống không thể hòa giải được, vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Đến năm 2015, chị N sang Malaysia xuất khẩu lao động, được một thời gian thì chị chuyển sang Đài Loan (Trung Quốc) để sinh sống, làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi, điều kiện công việc không cho phép nên hai vợ chồng không có cơ hội gần gũi, không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau, những mâu thuẫn trước kia giữa chị và anh Đ ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Chị và anh Đ đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành vì không tìm được tiếng nói chung. Nay nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang Đ. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Quang D, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày 22/9/2010. Chị đồng ý giao cả hai con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay vì chị đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), do khoảng cách xa xôi nên chị đề nghị được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử các cấp. Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt có xác nhận của bị đơn là anh Nguyễn Quang Đ trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là Ủy ban nhân dân xã S), huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 06/2012, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống không thể hòa giải được, vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Đến năm 2015, chị N sang Malaysia xuất khẩu lao động, được một thời gian thì chị chuyển sang Đài Loan (Trung Quốc) để sinh sống, làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi, điều kiện công việc không cho phép nên hai vợ chồng không có cơ hội gần gũi, không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau, những mâu thuẫn trước kia giữa chị và anh Đ ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Anh chị đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị N xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Nguyễn Quang D, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày 22/9/2010, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là anh Nguyễn Quang Đ có địa chỉ tại: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay chị N đang cư trú tại Đài Loan, cả chị N và anh Đ đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị N, anh Đại tự N1 tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là Ủy ban nhân dân xã S), huyện T, tỉnh Thái Bình, là hôn nhân hợp pháp. Anh chị trình bày cuộc sống ban đầu cũng khá hạnh phúc cho đến năm 2012 thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 06/2012. Đến giờ chị N xin ly hôn, anh Đ nhất trí. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị N được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Quang D, sinh ngày 18/8/2009 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày 22/9/2010. Chị N, anh Đ đều nhất trí đề nghị Toà án giao cả 02 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm pháp luật nên cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị N, anh Đ không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Quang Đ.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cả 02 con chung là Nguyễn Quang D, sinh ngày 18/08/2009 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày 22/09/2010 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị N, anh Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
- Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai số 0000040 ngày 16/05/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị N đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn N-Đ
