Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B-TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/06/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Vân

2. Bà Hà Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 136/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXX – HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ngọc Q, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh La Thanh L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.

(Đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025, trong quá trình tố tụng, tại phiên tòa nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc Q trình bày:

Chị và anh La Thanh L quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân. Chị và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P) vào ngày 23/10/2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh L cờ bạc, đá gà, ghen tuông vô cớ dẫn đến cự cải nhau. Chị đã khuyên nhiều lần và cho nhiều cơ hội sửa đổi tính tình cùng lo cho con chung, hàn gắn tình cảm nhưng anh L không thay đổi tính tình vẫn tiếp tục cờ bạc. Chị đã dẫn con chung về nhà mẹ ruột sinh sống đã hơn 07 tháng nay đây cũng là thời gian sống ly thân của chị và anh L. Trong thời gian sống ly thân anh L cũng đến năn nỉ, hàn gắn hôn nhân nhưng chị không còn tình cảm với anh L nên chị không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục hôn nhân. Chị xác định không còn tình cảm với anh L và kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: có 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014 hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014 và tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 09/5/2025, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh La Thanh L trình bày:

Anh và chị Q quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P) vào ngày 23/10/2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Q. Anh thừa nhận là anh nhiều lần cờ bạc dẫn đến vợ chồng cự cải, không còn chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Anh đã sửa đổi tính tình để chăm lo làm ăn cùng lo cho gia đình nhưng chị Q không cho anh cơ hội hàn gắn, kiên quyết ly hôn với anh. Anh và chị Q đã sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân anh có đến gặp chị Q để hàn gắn tình cảm nhưng chị Q lại không đồng ý cho anh cơ hội hàn gắn hạnh phúc hôn nhân. Anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn với chị Q.

Về con chung: Anh và chị Q có 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014 hiện nay đang sống chung với chị Q. Nếu tòa án giải quyết cho chị Q được ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý giao con cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các con chung. Anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Định Thị Ngọc Q1 đối với anh La Thanh L. Về con chung: Giao 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Q1 được trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung; Ghi nhận sự tự nguyện của chị Q1 không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét. Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Ngọc Q và anh La Thanh L quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P), huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/10/2010. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh L là hợp pháp. Chị Q yêu cầu ly hôn với anh L và cho rằng nguyên nhân không hạnh phúc là do anh L cờ bạc, ghen tuông vô cớ dẫn đến cự cải nhau. Chị đã khuyên nhiều lần và cho nhiều cơ hội sửa đổi tính tình cùng lo cho con chung nhưng anh L không thay đổi vẫn tiếp tục cờ bạc. Chị và anh L sống ly thân đã hơn 07 tháng. Còn anh L cũng thừa nhận anh nhiều lần cờ bạc dẫn đến vợ chồng cự cải, không còn chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Anh cũng đã sửa đổi tính tình để chăm lo làm ăn cùng lo cho gia đình nhưng chị Q không cho anh cơ hội hàn gắn, kiên quyết ly hôn với anh. Anh và chị Q đã sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân anh có đến gặp chị Q để hàn gắn tình cảm nhưng chị Q không đồng ý cho anh cơ hội hàn gắn hạnh phúc hôn nhân. Anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn với chị Q.

Sau khi kết hôn, chị Q và anh L đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hai bên không còn hòa thuận, quan tâm chăm sóc yêu thương nhau, chị Q và anh L có thời gian sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị Q và anh L không giải quyết được mâu thuẫn hàn gắn tình cảm vợ chồng để chung sống hạnh phúc, chị Q xác định không còn tình cảm với anh L. Qua đó, xét thấy hôn nhân giữa chị Q và anh L đã xãy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Q đối với anh L là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Chị Q và anh L có 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014. Con chung đang do chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị Q cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung; anh L cũng đồng ý giao con chung cho chị Q được tiếp tục nuôi dưỡng; đồng thời cháu T và cháu N đều có nguyện vọng sống chung với chị Q. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị Q là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Q nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có.

[5] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị Đinh Thị Ngọc Q có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Định Thị Ngọc Q1 đối với anh La Thanh L.
  2. Về con chung: Chị Đinh Thị Ngọc Q được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên La Thị Bích T, sinh ngày 18/02/2011 và La Thị Bích N, sinh ngày 05/11/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Q không yêu cầu anh La Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Anh La Thanh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không có.
  6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), chị Định Thị Ngọc Q1 có nghĩa vụ phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009175 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Án phí vụ kiện chị Q1 đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh B;
  • - VKSND huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - UBND xã P;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger