Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17-3-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng;

Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thuý Vân – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Ngọc B, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lý Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 12 năm 2024 và các tài liệu trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Võ Ngọc B trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh H sống chung với nhau năm 2013, có tổ chức hôn lễ nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, việc sống chung là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được chị B xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp được với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy mâu thuẫn, anh H không quan tâm chăm sóc gia đình. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục được. Nay chị yêu câu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 01 người con chung cháu Lý Khánh T, sinh ngày 22/3/2014 hiện đang sống cùng với chị, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu câu anh H câp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định chị và anh H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Lý Văn H đúng theo quy định pháp luật nhưng anh H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Lý Văn H có nơi cư trú tại ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Võ Ngọc B khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lý Văn H, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh H đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt chị B, anh H theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2013 chị B và anh H sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không có cơ sở công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh H. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị B xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh H và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng gữa chị B và anh H.

[3] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung, cháu Lý Khánh T, sinh ngày 22/3/2014, hiện cháu đang sống cùng với chị B, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ trước đến nay cháu T sống cùng với chị B, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu, Tòa án có tiến hành ghi nhận ý kiến trình bày của cháu T và cháu có nguyện vọng được sống cùng chị B, anh H không gửi ý kiến của mình trước yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với sự phát triển ổn định vốn có của cháu và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị B không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh H. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của chị B nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị B xác định chị với anh H không có tài sản chung cũng như nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, anh H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Ngọc B về việc ly hôn với anh Lý Văn H.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Ngọc B và anh Lý Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung Lý Khánh T, sinh ngày 22/3/2014 cho chị Võ Ngọc B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lý Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, anh Lý Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Võ Ngọc B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Chị có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005091 ngày 31/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hợp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger