|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 6 – 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Út
- Ông Lê Minh Thật
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 84/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1982; Cư trú tại: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Tổ E, khu phố P, Phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Phú H, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Phú H do quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A (nay là phường N, TX.An Nhơn), tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh H bỏ nhà đi từ năm 2020 cho đến nay không có tin tức. Năm 2024, anh Trần Phú H đã bị Toà án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên bố mất tích tại Quyết định số: 02/2024/QĐST-DS ngày 24/9/2024. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Phú H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Trần Phú C (giới tính: nam), sinh ngày 20/6/2008 và Trần Nguyễn Khánh T (giới tính: nữ), sinh ngày 22/11/2012. Các con hiện đang sống chung với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Có tài sản chung, nhưng chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Phú H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; qua kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Chị Nguyễn Thị Hồng M và anh Trần Phú H tự nguyện kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Trần Phú H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng M có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung đối với anh Trần Phú H. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện. Căn cứ Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về cấp dưỡng:
- Về tài sản chung:
- Về nợ chung:
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Hồng M và anh Trần Phú H kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhận hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh chị có con chung, đến năm 2020 anh H bỏ nhà đi biệt tích nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh H. Chị M xác định do anh H đã mất tích nhiều năm nay, chị đã tìm mọi cách để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về anh H. Theo Quyết định số: 02/2024/QĐST-DS ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Long Mỹ về việc tuyên bố anh Trần Phú H mất tích. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2004 quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho ly hôn giữa chị M và anh H.
Quá trình chung sống, chị M và anh H có 02 con chung là Trần Phú C (giới tính: nam), sinh ngày 20/6/2008 và Trần Nguyễn Khánh T (giới tính: nữ), sinh ngày 22/11/2012. Các con hiện đang sống chung với chị M, chị M yêu cầu được nuôi, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị M, Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi anh H mất tích đến nay chị M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa các con đều có nguyện vọng được sống cùng với chị M. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao trẻ Trần Phú C và trẻ Trần Khánh T cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Chị M xác định có tài sản chung nhưng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Chị M xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Hồng M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị M được nhận lại 840.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 233, 238, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng M đối với anh Trần Phú H.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng M về việc yêu cầu chia tài sản chung.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng M và anh Trần Phú H.
- Về con chung: Giao trẻ Trần Phú C (giới tính: nam), sinh ngày 20/6/2008 và trẻ Trần Nguyễn Khánh T (giới tính: nữ), sinh ngày 22/11/2012 cho chị Nguyễn Thị Hồng M nuôi dưỡng. Anh Trần Phú H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Hồng M không yêu cầu anh Trần Phú H cấp dưỡng nên không xem xét.
- Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hồng M xác định có tài sản chung, nhưng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng M xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng M phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Hồng M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010493 lập ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Nguyễn Thị Hồng M được nhận lại 840.000đ (tám trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Hồng M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010492 lập ngày 11/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thừa |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
