Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NH DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09-6-2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim H1.

Các Hội thẩm nH dân:

  1. Ông Nguyễn Viết Ngoan.
  2. Ông Tăng Tài Thủ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nH dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nH dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2025/QÐST–HNGĐ ngày 02/6/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Quyền T, sinh năm 1996 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu vực TM1, phường TL, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Cao Thanh G, sinh năm 1996 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực TM1, phường TL, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Quyền T trình bày:

Về quan hệ hôn nH: Bà và ông Cao Thanh G tiến đến hôn nH vào năm 2014 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nH dân phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt theo số đăng ký 148 ngày 09/9/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi làm cuộc sống hôn nH không hạnh phúc, không thể hàn gắn được và đến tháng 10/2024 thì vợ chồng ly tH cho đến nay. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nH ngày càng trầm trọng không thể kéo dài, không còn tình cảm với ông G nên bà yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Cao Gia H (giới tính: nữ), sinh ngày 20/8/2015 và Cao Gia H1 (giới tính: nam), sinh ngày 25/7/2020. Hiện nay các con do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng do vậy khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai con, bà không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa, bà T xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập ông Cao Thanh G tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nH1 ông G đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của ông đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nH chấp nhận cho bà Lê Thị Quyền T được ly hôn với ông Cao Thanh G. Về con chung: giao cả hai con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung - Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Cao Thanh G đã được triệu tập hợp lệ nH1 vắng mặt tại phiên tòa lần hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông.

[2] Về hôn nH: Xét bà Lê Thị Quyền T và ông Cao Thanh G tiến tới hôn nH vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nH hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà T cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, hạnh phúc gia đình không còn và bà không còn tình cảm với ông G, bà không thể tiếp tục tình trạng hôn nH nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn, riêng ông G dù đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu ly hôn của bà T nH1 ông không có ý kiến. Từ đó, cho thấy mong muốn ly hôn của bà T là có nH1 ông G không có ý kiến, không quan tâm và không có biện pháp gì hàn gắn gia đình. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, G đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nH1 nay bà T xác định hạnh phúc gia đình không có, không còn tình cảm và không thể tiếp tục tình trạng hôn nH với ông G; Ông G lại bỏ mặc, không đưa ra biện pháp hàn gắn gia đình cho thấy hôn nH của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nH không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nH và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Lê Thị Quyền T được ly hôn với ông Cao Thanh G.

[3] Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Cao Gia H (giới tính: nữ), sinh ngày 20/8/2015 và Cao Gia H1 (giới tính: nam), sinh ngày 25/7/2020. Khi ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con; về phía ông G từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án cũng như không có bất cứ văn bản ý kiến nào về các yêu cầu của nguyên đơn. Xét hiện hai con chung do bà T nuôi dưỡng và cháu H có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà T, mặc khác qua xác minh ở địa phương không xảy ra vụ việc về bạo lực gia đình. Do vậy, nếu thay đổi người nuôi con có thể ảnh hưởng đến tâm lý của con nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cả hai con chung cho bà T tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có yêu cầu ông G thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc ông G phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

[5] Về án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Quyền T phải chịu theo quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nH và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án:

1. Về hôn nH: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Quyền T và ông Cao Thanh G.

2. Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Cao Gia H (giới tính: nữ), sinh ngày 20/8/2015 và Cao Gia H1 (giới tính: nam), sinh ngày 25/7/2020. Giao cả hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho ông G không ai được quyền cản trở. Ông G, bà T có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

- Về án phí Hôn nH và Gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Quyền T phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nH1 được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0002648 ngày 01/4/2025 được chuyển thành án phí.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - UBND phường Tân Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Kim H1

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Ngoan

Tăng Tài Thủ

Hoàng Thị Kim H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NH DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NH DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nH dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2025/QĐST–HNGĐ ngày 02/6/2025 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Quyền T, sinh năm 1996 (Có mặt) Địa chỉ: Khu vực TM1, phường TL, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. 2. Bị đơn: Ông Cao Thanh G, sinh năm 1996 (Vắng mặt) Địa chỉ: Khu vực TM1, phường TL, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger