Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 67/2025/DSST

Ngày 24/6/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 74/2025/TLST- DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXX-DS ngày 12/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 128/2025/QĐST-DS ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1).

Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Tuyết N – Chức vụ: Giám đốc Phòng G.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Tuyết N: Bà Nguyễn Thị Yến O, sinh năm 2001. Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Giấy uỷ quyền số 032/2024/UQ-OCB ngày 29/10/2024).

- Bị đơn: Ông Trịnh Quốc T1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Trịnh Quốc T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trịnh Quốc T1 có ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB) theo hình thức Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dùng cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021 với 02 thẻ tín dụng có hạn mức cụ thể như sau:

Thẻ tín dụng số: 356505XXXXXX8795; Hạn mức: 100.000.000 đồng và Thẻ tín dụng số: 970448XXXXXX5994; Hạn mức: 80.000.000 đồng.

Lãi suất của 02 thẻ tín dụng đều thỏa thuận là 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%/lãi suất vay trong hạn. Thời hạn vay của mỗi thẻ là 60 tháng. Mục đích vay là để ông T1 mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng.

Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng TMCP P đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân đủ số tiền vay nêu trên cho ông T1.

Trong thời gian sử dụng thẻ, ông T1 có sử dụng tiền gốc và thanh toán gốc, lãi cho ngân hàng nhiều lần, tuy nhiên đến thời điểm ngày 05/02/2024 thì ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo như hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng. Tổng nợ vay của ông T1 phát sinh từ hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 21/10/2024 là 152.727.543 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng).

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông T1 vẫn không chịu thanh toán nợ vay mà cố tình tránh né, kéo dài thời gian để trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP P (O1) đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Trịnh Quốc T1 trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dùng cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng) tạm tính đến ngày 21/10/2024 là 152.727.543 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng). Cụ thể từng thẻ như sau:

  • - Thẻ tín dụng số: 356505XXXXXX8795; Hạn mức: 100.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 72.887.692 đồng
  • + Nợ lãi: 41.081.283 đồng
  • + Phí: 800.000 đồng
  • + Tổng cộng: 114.768.975 đồng.
  • - Thẻ tín dụng số: 970448XXXXXX5994; Hạn mức: 80.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 23.881.041 đồng
  • + Nợ lãi: 13.477.527 đồng
  • + Phí: 600.000 đồng
  • + Tổng cộng: 37.958.568 đồng.

- Buộc ông Trịnh Quốc T1 phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết, tính từ ngày 21/10/2024 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi có Quyết định/Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Tính đến ngày 24/6/2025 ông Trịnh Quốc T1 còn nợ Ngân hàng TMCP P (OCB) đối với hai thẻ tín dụng như sau:

  • - Thẻ tín dụng số: 356505XXXXXX8795; Hạn mức: 100.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 72.887.692 đồng
  • + Nợ lãi: 60.509.782 đồng
  • + Phí: 800.000 đồng
  • + Tổng cộng: 140.197.474 đồng.
  • - Thẻ tín dụng số: 970448XXXXXX5994; Hạn mức: 80.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 23.881.041 đồng
  • + Nợ lãi: 20.400.331 đồng
  • + Phí: 600.000 đồng
  • + Tổng cộng: 44.881.372 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Trịnh Quốc T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền ông T1 còn nợ từ hai thẻ tín dụng tính đến ngày 24/6/2025 là 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng) và tiếp tục phải trả tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi có Quyết định/Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

* Đối với bị đơn ông Trịnh Quốc T1:

Đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên ông T1 không gửi văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của T2, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn bị đơn ông Trịnh Quốc T1 thì chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Trịnh Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021, giữa Ngân hàng TMCP P và ông Trịnh Quốc T1 thì thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP P và ông Trịnh Quốc T1 là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do bị đơn ông Trịnh Quốc T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn Ngân hàng TMCP P, nên đề Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bị đơn là ông Trịnh Quốc T1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP P với số tiền còn nợ của hai thẻ tín dụng tính đến ngày 24/6/2025 là 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc 96.768.733 đồng, nợ lãi 80.910.113 đồng, phí 1.400.000 đồng và buộc ông T1 phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/6/2025 cho đến khi ông T1 tất toán khoản nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn ông Trịnh Quốc T1 có địa chỉ cư trú tại địa chỉ ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Vì vậy, căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P đối với bị đơn ông Trịnh Quốc T1 nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Trịnh Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung:

Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP P và ông Trịnh Quốc T1 được giao kết theo hình thức Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021, hợp đồng được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

Theo hợp đồng tín dụng, ông Trịnh Quốc T1 vay tiền của Ngân hàng TMCP P bằng hình thức mở 02 thẻ tín dụng, cụ thể:

Thẻ tín dụng số: 356505XXXXXX8795 với hạn mức vay là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và thẻ tín dụng số: 970448XXXXXX5994 với hạn mức vay là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

Lãi suất của 02 thẻ tín dụng nêu trên đều được thỏa thuận là 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%/lãi suất vay trong hạn. Thời hạn vay của mỗi thẻ là 60 tháng. Mục đích vay tiền là để ông T1 mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng.

Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền của 02 thẻ tín dụng nêu trên cho ông T1 sử dụng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng số tiền vay của 02 thẻ tín dụng, ông Trịnh Quốc T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng theo như các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở ông T1 thực hiện việc thanh toán nợ cho Ngân hàng, nhưng ông T1 cố tình không thực hiện việc trả nợ.

Do đó, Ngân hàng TMCP P đã khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Trịnh Quốc T1 phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP P đối với 02 thẻ tín dụng tính đến ngày 24/6/2025 là: 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 96.768.733 đồng, nợ lãi là 80.910.113 đồng, phí 1.400.000 đồng, cụ thể:

  • - Thẻ tín dụng số: 356505XXXXXX8795; Hạn mức: 100.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 72.887.692 đồng
  • + Nợ lãi: 60.509.782 đồng
  • + Phí: 800.000 đồng
  • + Tổng cộng: 140.197.474 đồng.
  • - Thẻ tín dụng số: 970448XXXXXX5994; Hạn mức: 80.000.000 đồng.
  • + Nợ gốc: 23.881.041 đồng
  • + Nợ lãi: 20.400.331 đồng
  • + Phí: 600.000 đồng
  • + Tổng cộng: 44.881.372 đồng.

Đồng thời, ông T1 còn phải tiếp tục phải trả tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Trịnh Quốc T1 đã tự nguyện thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP P (OCB) theo hình thức Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021 và đồng ý với các điều khoản của Hợp đồng khi ký kết với Ngân hàng, nên ông phải chịu sự ràng buộc bởi các thỏa thuận ghi trong hợp đồng và quy định của pháp luật về việc vay tiền theo hình thức hợp đồng tín dụng. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền của hai thẻ tín dụng cho ông T1 sử dụng, tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như hai bên thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ của hai thẻ tín dụng tính đến ngày 24/6/2025 là 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 96.768.733 đồng, nợ lãi là 80.910.113 đồng, phí 1.400.000 đồng và tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/6/2025 đến khi hoàn thành nghĩa vụ tất toán khoản nợ cho Ngân hàng, là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định tại các Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P về việc buộc ông Trịnh Quốc T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ của hai thẻ tín dụng tính đến ngày 24/6/2025 là 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng) và ông T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/6/2025 đến khi tất toán khoản nợ cho Ngân hàng.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Bị đơn ông Trịnh Quốc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được tòa án chấp nhận, số tiền án phí được tính là: 185.078.846 đồng x 5% = 9.253.942 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 280 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trịnh Quốc T1.
    • - Buộc ông Trịnh Quốc T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/6/2025 là 185.078.846 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 96.768.733 đồng, nợ lãi là 80.910.113 đồng và phí là 1.400.000 đồng.
    • - Ông Trịnh Quốc T1 còn phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 02/2021 ngày 15/01/2021, kể từ ngày 25/6/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.
  2. Về án phí sơ thẩm:
    • - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.818.189 đồng (Ba triệu tám trăm mười tám nghìn một trăm tám mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006999, ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
    • - Bị đơn ông Trịnh Quốc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 9.253.942 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - CC. THADS TP. Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/DSST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 67/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP PĐ tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trinh Quốc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger