TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 67/2025/DS-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Ngọc Trứ
Bà Đặng Thị Tiềm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong các ngày 19 và ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 286/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1949 (có mặt);
Địa chỉ: số H T, khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bà Lê Thị H, sinh năm 1953 (có mặt);
Địa chỉ: số B Hồ H, khu phố B, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H: ông Trần Đăng K, sinh năm 1996 (văn bản ủy quyền số công chứng 735, quyển số 01/2024- SCT/HĐ,GD ngày 21/8/2024) (có mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Bà Trần Ngọc L, sinh năm 1992;
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Ngọc L: ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1998 (văn bản ủy quyền số công chứng 3058, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/4/2024) (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08/8/2023; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H có đại diện theo ủy quyền ông Trần Đăng K trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H với bà Trần Ngọc L là chổ quen biết, vợ chồng ông P có quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là thửa số 74, tờ bản đồ số 9, diện tích 332,1 m², tọa lạc khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Vào ngày 16/3/2021 vợ chồng ông P ký hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc L số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 với nội dung như sau:
- - Bà L thuê quyển sử dụng đất thuộc thửa số 74, tờ bản đồ số 9, diện tích 332,1 m², tọa lạc khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, trên đất có một cái kho do bên ông P đầu tư xây dựng.
- - Mục đích thuê: Để kinh doanh
- - Thời hạn thuê: 10 năm.
- - Giá thuê: 12.000.000 đồng/tháng, cứ sau 03 năm giá thuê sẽ tăng 10% với giá thuê nằm liền trước. Phương thức thanh toán: bằng tiền mặt, chuyển khoản và thanh toán định kỳ hàng tháng.
- - Tiền đặc cọc: 9.000.000 đồng.
Hiện trạng phần đất và tài sản trên đất khi cho thuê gồm có: một nhà kho và một nhà vệ sinh cho ông P bà L xây dựng trước khi cho thuê. Từ lúc hai bên ký hợp đồng thuê thì bà L có thanh toán tiền thuê từ ngày 16/3/2021 đến 16/3/2023 với số tiền 288.000.000 đồng. Từ đó đến nay thì bà L không thanh toán tiền thuê nữa.
Hiện nay thì bị đơn là người quản lý và sử dụng tài sản thuê nêu trên.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc L số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H với bà Trần Thị Ngọc L.
- - Buộc bà Trần Ngọc L trả cho ông P bà H tiền thuê tính từ ngày 16/3/2023 đến 16/6/2025 với số tiền 27 tháng x 12.000.000 đồng = 324.000.000 đồng.
- - Nguyên đơn không hoàn lại cho bị đơn số tiền mà bị đơn đã đặc cọc cho nguyên đơn số tiền 9.000.000 đồng.
- - Nguyên đơn đồng ý hoàn trả số tiền đối với tài sản của bị đơn đã xây dựng trên đất thuê gồm: 01 nhà vệ sinh kết cấu gạch men, vách tường, lợp la phong diện tích 8,4 m² với giá 7.014.000 đồng, gạch ốp tường kết cấu gạch men 25 x 40 diện tích 114,3 m² với giá 11.772.900 đồng, gạch vĩa hè loại 40 x 40 diện tích 28,75 m² với giá 1.408.750 đồng (hai thống nhất tiền đầu tư lót gạch vĩa hè thì trước đây mỗi bên chịu chi phí là 50%), với số tiền tổng cộng là 20.195.650 đồng (theo giá mà Hội đồng định giá đã định vào ngày 24/4/2024). Nguyên đơn đồng ý cấn trừ số tiền 20.195.650 đồng vào số tiền thuê mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là 324.000.000 đồng. Nên số tiền thuê đất bị đơn phải trả cho nguyên đơn sau khi làm tròn là 303.804.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Ngọc L có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hữu V trình bày:
Bị đơn bà Trần Ngọc L có ký hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc L số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 với vợ chồng ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn:
- - Đồng ý hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc L số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 giữa ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H với bà Trần Ngọc L.
- - Không đồng ý yêu cầu buộc bà L có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà còn nợ từ ngày 16/3/2023 đến thời điểm xét xử. Vì ông P và bà H là người hủy hợp đồng trước, nhiều lần khóa cửa không cho bà L hoạt động công ty.
- - Không đồng ý về việc ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H không hoàn trả lại bà Trần Ngọc L tiền cọc 9.000.000 đồng vì ông P bà H là người vi phạm hợp đồng trước.
- - Tiền thuê nhà thì bà L đã trả được cho ông P bà H đến ngày 16/3/2023. Từ ngày 16/3/2023 thì bà L chưa đóng thêm tiền thuê nhà cho ông P bà H.
- - Bị đơn thống nhất với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2024 đối với các tài sản hiện có trong nhà. Tuy nhiên, bà L không đồng ý với giá của Hội đồng định giá vì bà L cho rằng giá của nhà vệ sinh và phần gạch ốp tường trong biên bản định giá ngày 24/4/2024 là thấp so với giá trị thực tế.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy phát biểu ý kiến và đề nghị:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 68, 79, 71, 72, 73, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ Điều 117, Điều 357, Điều 401, Điều 423, Điều 474, Điều 477, Điều 479, Điều 480, Điều 482, Điều 501 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc L số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 với vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H. Buộc bà Trần Ngọc L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 303.804.000 đồng. Không chấp nhận đối với yêu cầu không hoàn cọc của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trần Ngọc L có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hữu V vắng mặt không lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ Điều 472 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”. Bị đơn bà Trần Ngọc L đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang và phần đất tranh chấp địa chỉ: khu phố D, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét, yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H với bà Trần Ngọc L được ký kết tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị H. Trong quá trình giải quyết vụ án tại biên bản hòa giải ngày 18/7/2024 thì bị đơn cũng thừa nhận đã thanh toán tiền thuê đến ngày 16/3/2023 thì ngưng không thanh toán và bị đơn cũng đồng ý hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã ký với nguyên đơn. Từ thời điểm sau ngày 16/3/2023 thì bị đơn vẫn là người quản lý tài sản thuê nhưng không thanh toán tiền thuê, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Dó đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 427, Điều 428 Bộ luật Dân sự có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
[3.2] Về yêu cầu trả tiền thuê đất của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại biên bản hòa giải ngày 18/7/2024 thể hiện bị đơn thừa nhận đã trả tiền thuê đất đến ngày 16/3/2023, từ ngày 16/3/2023 thì thị bị đơn chưa đóng thêm tiền thuê nhà cho ông P, bà H. Đây là sự thừa nhận của đương sự, là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn yêu cầu tính tiền thuê từ ngày 16/3/2023 đến ngày 16/6/2025 là 27 tháng x 12.000.000 đồng/tháng = 324.000.000 đồng. Căn cứ vào Điều 481 Bộ luật Dân sự, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3.3] Về tài sản trên đất thuê: Nguyên đơn và bị đơn cũng thống nhất về hiện trạng và số lượng tài sản bị đơn đã đầu tư thêm trên đất thuê theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2024 gồm: 01 nhà vệ sinh kết cấu gạch men, vách tường, lợp la phong diện tích 8,4 m²; gạch ốp tường kết cấu gạch men 25 x 40 diện tích 114,3 m²; gạch vĩa hè loại 40 x 40 diện tích 28,75 m². Tuy nhiên, bị đơn cho rằng gía trị tài sản do Hội đồng định giá xác định là thấp hơn thực tế và có văn bản đề nghị Công ty Đ định giá lại. Tòa án đã ban hành thông báo số 06/TB-TA ngày 07/8/2024 về việc cung cấp hợp đồng định giá với yêu cầu bị đơn cung cấp hợp đồng định giá với đơn vị định giá lại để làm căn cứ giải quyết, nhưng bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu. Căn cứ khoản 1 Điều 91, Điều 95, Điều 104 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, không có căn cứ khách quan nào khác để xác định giá trị tài sản cao hơn. Do đó, có cơ sở sử dụng kết quả định giá của Hội đồng định giá đã định vào ngày 24/4/2024 với giá trị tài sản của bị đơn gồm: 01 nhà vệ sinh kết cấu gạch men, vách tường, lợp la phong diện tích 8,4 m² với giá trị 7.014.000 đồng; gạch ốp tường kết cấu gạch men 25 x 40 diện tích 114,3 m² với giá trị 11.772.900 đồng; gạch vĩa hè loại 40 x 40 diện tích 28,75 m² với giá trị 1.408.750 đồng, với số tiền tổng cộng là 20.195.650 đồng, để giải quyết vụ án. Nguyên đơn đồng ý cấn trừ số tiền 20.195.650 đồng vào số tiền thuê mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là 324.000.000 đồng. Dó đó, Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị đơn phải di dời tài sản trang thiết bị: máy cắt rửa thịt, máy đóng khuôn, máy sên thực phẩm, máy trộn bột, máy đóng bao bì, lò nướng, máy cán bột tự động, máy hút khói bếp, tủ lạnh, máy lạnh, cân phân tích điện tử, các thiết bị văn phòng và các tài sản khác thuộc quyền sỡ hữu của bị đơn, trả lại cho nguyên đơn tài sản thuê theo hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021.
[3.4] Về tiền cọc 9.000.000 đồng: Căn cứ vào Điều 6 của Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hai bên có thỏa thuận việc chấm dứt hợp đồng phải thông báo trước cho bên còn lại biết trước ba tháng. Do nguyên đơn không thực hiện việc thống báo về việc chấm dứt hợp đồng cho bị đơn trước ba tháng nên số tiền đặt cọc 9.000.000 đồng nguyên đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị đơn.
[4] Bị đơn bà Trần Ngọc L có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hữu Văn D đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác. Việc cố tình vắng mặt là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn hoàn trả chi phí đầu tư trên đất thuê gồm: 01 nhà vệ sinh có kết cấu vách tường, dán gạch men, nền gạch men và các thiết bị vệ sinh với số tiền 30.000.000 đồng, 01 hợp đồng cung cấp điện một pha công suất lớn dùng để phục vụ cho sản xuất kinh doanh số tiền 42.000.000 đồng, một hầm chứa chất thải công nghiệp, được xây dựng kiên cố số tiền 30.000.000 đồng, gạch ốp tường toàn bộ nhà kho số tiền 24.000.000 đồng, gạch lót vĩa hè số tiền 10.000.000 đồng, hệ thống quạt thông gió trần nhà số tiền 16.800.000 đồng, toàn bộ khung nhôm, kính nhà xưởng, khu vực trưng bày sản phẩm bằng kính cường lực số tiền 500.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 652.800.000 đồng. Tuy nhiên, bị đơn không nộp tiền tạm ứng án phí phản tố theo thông báo nộp tiền tạm ứng án phí ngày 07/8/2024 của Tòa án. Căn cứ khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án đã ban hành thông báo trả lại đơn khởi kiện số 39A/TB-TA ngày 20/8/2024. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét đối với yêu cầu phản tố của bị đơn trong vụ án này.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[5.1] Hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H với bà Trần Ngọc L.
[5.2] Buộc bà Trần Ngọc L phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H tiền thuê đất tính từ ngày 16/3/2023 đến 16/6/2025 số tiền 303.804.000 đồng (sau khi đã cấn trừ 20.195.650 đồng tiền đối với tài sản do bà L đã đầu tư trên đất thuê).
[5.3] Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho bà Trần Ngọc L số tiền cọc 9.000.000 đồng.
[5.4] Buộc bị đơn bà Trần Ngọc L phải di dời tài sản trang thiết bị: máy cắt rửa thịt, máy đóng khuôn, máy sên thực phẩm, máy trộn bột, máy đóng bao bì, lò nướng, máy cán bột tự động, máy hút khói bếp, tủ lạnh, máy lạnh, cân phân tích điện tử, các thiết bị văn phòng và các tài sản khác thuộc quyền sỡ hữu của bị đơn, trả lại cho nguyên đơn tài sản thuê theo hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021.
[6] Về án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, nên nguyên đơn phải chịu tiền án phí số tiền 450.000 đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận. Nhưng do ông P hiện 76 tuổi, bà H hiện 72 tuổi nên theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án và Điều 2 Luật người cao tuổi, nên ông P bà H được miễn toàn bộ tiền án phí; bị đơn bà Trần Ngọc L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 303.804.000 đồng x 5% = 15.190.200 đồng.
[7] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 117, Điều 328, Điều 398, Điều 422, Điều 423, Điều 427, Điều 428, Điều 472, Điều 481, Điều 482 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi.
Tuyên xử
1.Về dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Hủy hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H với bà Trần Ngọc L.
- - Buộc bị đơn bà Trần Ngọc L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H số tiền thuê đất còn nợ tính từ ngày 16/3/2023 đến ngày 16/6/2025 số tiền 303.804.000 (Ba trăm lẻ ba triệu tám trăm lẻ bốn nghìn) đồng (sau khi đã cấn trừ 20.195.650 đồng tiền đối với tài sản do bà L đã đầu tư trên đất thuê).
- - Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn P bà Lê Thị H liên đới hoàn trả lại cho bị đơn bà Trần Ngọc L 9.000.000 (Chín triệu) đồng tiền đặt cọc.
- - Buộc bị đơn bà Trần Ngọc L phải di dời tài sản trang thiết bị: máy cắt rửa thịt, máy đóng khuôn, máy sên thực phẩm, máy trộn bột, máy đóng bao bì, lò nướng, máy cán bột tự động, máy hút khói bếp, tủ lạnh, máy lạnh, cân phân tích điện tử, các thiết bị văn phòng và các tài sản khác thuộc quyền sỡ hữu của bị đơn, trả lại cho nguyên đơn tài sản thuê theo hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất số công chứng 3228, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/3/2021.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2.Về án phí: Bị đơn bà Trần Ngọc L phải chịu 15.190.200 (Mười lăm triệu một trăm chín mươi nghìn hai trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Do nguyên đơn ông Nguyễn Văn P hiện tại 76 tuổi và bà Lê Thị H hiện tại 72 tuổi, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án và Điều 2 Luật người cao tuổi, nên ông P bà H được miễn toàn bộ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên vào lúc 07 giờ 50 phút, ngày 23 tháng 6 năm 2025. Có mặt ông Ông Nguyễn Văn P, ông Trần Đăng K.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 67/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 67/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
