Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/DS-ST

Ngày: 09/4/2025.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Lê Anh Khoa
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Tô Văn Tông – Kiểm sát viên

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 293/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1

Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo uỷ quyền: 1/ Ông Nguyễn Dương B

2/ Ông Nguyễn Lê Trường S

Địa chỉ: 95-97-99 V, phường T, quận N, thành phố Ầ

- Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1992

2/ Bà Nguyễn Thị Như N, sinh năm 1993

Cùng địa chỉ: Số A T, Phường A, Quận N, nh phố C.

(Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt, các bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/10/2021, ông Nguyễn Quốc H có ký với Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh S2 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Quốc H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Đến ngày 05/04/2022, Theo yêu cầu của ông Nguyễn Quốc H muốn chuyển đơn vị quản lý thẻ từ Chi nhánh S2 về Chi Nhánh C1 do khách hàng dự định chuyển về sinh sống tại nhà gia đình ba mẹ ở Cần Thơ theo địa chỉ tạm trú: 182/63, T, Phường A, Quận N, Thành phố Cần Thơ.

Sau khi nhận bàn giao hồ sơ thẻ của ông Nguyễn Quốc H, đến ngày 13/05/2022 ông Nguyễn Quốc H có yêu cầu Ngân hàng S3 – Chi nhánh C1 nâng hạn mức thẻ tín dụng từ 50.000.000đồng lên 100.000.000đồng với nhu cầu chi tiêu và mua sắm cá nhân hợp lệ. Nhận thấy quá trình sử dụng thẻ tín dụng S3 của ông Nguyễn Quốc H từ thời điểm mở thẻ đến ngày 13/05/2022 là tốt và thỏa điều kiện nâng hạn mức. Chi nhánh C1 đã hỗ trợ nâng hạn mức Thẻ tín dụng từ 50.000.000đồng lên 100.000.000đồng theo yêu cầu của ông Nguyễn Quốc H.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Nguyễn Quốc H đã thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 684.511.136đồng, trong đó giao dịch từ số thẻ 970403-3959 là 257.249.652đồng, và số thẻ 436438-0069 là 427.261.484đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông Nguyễn Quốc H thanh toán được 586.809.182 đồng trong đó thanh toán cho số thẻ 970403-3959 là 159.300.000 đồng và số thẻ 436438-0069 là 427.509.182đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Quốc H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Quốc H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Vào ngày 10/03/2022, bà Nguyễn Thị Như N có ký với Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh S2 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thị Như N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Đến ngày 08/05/2022, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Như N muốn chuyển đơn vị quản lý thẻ từ Chi nhánh S2 về Chi Nhánh C1 do Khách hàng và chồng là ông Nguyễn Quốc H dự định chuyển về sinh sống thành phố Cần Thơ.

Sau khi nhận bàn giao hồ sơ Thẻ của bà Nguyễn Thị Như N, đến ngày 08/06/2022 bà Nguyễn Thị Như N có yêu cầu Ngân hàng S3 – Chi nhánh C1 nâng hạn mức thẻ tín dụng từ 50.000.000đồng lên 100.000.000đồng với nhu cầu chi tiêu và mua sắm cá nhân. Nhận thấy quá trình sử dụng thẻ tín dụng S3 của bà Nguyễn Thị Như N từ thời điểm mở thẻ đến ngày 08/06/2022 là tốt và thỏa điều kiện nâng hạn mức nên Chi nhánh C1 đã hỗ trợ nâng hạn mức Thẻ tín dụng theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Như N.

Đến ngày 08/06/2023, bà Nguyễn Thị Như N tiếp tục yêu cầu S3 chi nhánh C1 hỗ trợ nâng hạn mức để phục vụ chi tiêu mua sắm cá nhân. Qua thẩm định khách hàng và lịch sử sử dụng từ thời điểm mở thẻ đến ngày 08/06/2023 là tốt và thỏa điều kiện, Chi nhánh C1 đã xem xét và đồng ý nâng hạn mức Thẻ tín dụng của bà Nguyễn Thị Như N từ 100.000.000đồng lên 200.000.000đồng thỏa theo điều kiện khách hàng và quy định Ngân hàng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Nguyễn Thị Như N đã thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 433.368.966 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay bà Nguyễn Thị Như N thanh toán được 233.670.000đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhỡ nhưng bà Nguyễn Thị Như N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Như N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Do các bị đơn thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên đề nghị Toà án tuyên buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H phải trả cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là 152.006.910 đồng (trong đó nợ gốc 115.964.683đồng, nợ lãi 36.042.227đồng) và bị đơn bà Nguyễn Thị Như N phải trả cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là 304.416.610 đồng (trong đó nợ gốc 231.682.178đồng, nợ lãi 72.734.432đồng). Buộc ông H và bà N có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh sau ngày 01/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tai Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng. Buộc ông H và bà N phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, phí thi hành án, chi phí phát sinh liên quan.

Tại phiên tòa,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị Như N vắng mặt nên không rõ ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: thẩm phán và đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1. Buộc ông Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 202.339.752đồng (trong đó nợ gốc: 115.964.683đồng và lãi quá hạn 86.447.075đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Buộc bà Nguyễn Thị Như N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 405.027.234đồng (trong đó nợ gốc: 231.682.178đồng và lãi quá hạn 173.345.056đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Tô Phương N1, bà Lương Thị Thùy D1 phải thanh toán

Về án phí dân sự sơ thẩm các bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn và bị đơn có ký kết các hợp đồng cấp hạn mức sử dụng thẻ tín dụng, do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N trả nợ vay theo các hợp đồng đã ký kết, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Trong các hợp đồng tín dụng, các bị đơn có địa chỉ tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; tuy nhiên qua kết quả xác minh và theo Thông báo về kết quả giải quyết, huỷ bỏ đăng ký cư trú năm 2022 của công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thì các bị đơn có địa chỉ tạm trú cuối cùng tại nhà trọ số A T, phường A, quận N nên xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa tiến hành các thủ tục công khai chứng cứ, hòa giải theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ theo kết quả xác minh của Công an phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và Thông báo về kết quả giải quyết, huỷ bỏ đăng ký cư trú năm 2022 của công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thể hiện địa chỉ tạm trú cuối cùng của ông H, bà N là tại số A T, phường A, quận N; do đó Toà án đã tiến hành niêm yết thông báo các văn bản tố tụng tham gia vụ kiện cho ông H, bà N tại địa chỉ nêu trên và xét xử vắng mặt ông H, bà N theo Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: thời hiệu khởi kiện đảm bảo theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Xét về nội dung vụ án:

[4.1] Ngày 18/10/2021 nguyên đơn và bị đơn ông Nguyễn Quốc H đã ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) thể hiện việc bị đơn được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng Visa Card hạn mức sử dụng ban đầu là 50.000.000đồng sau đó tăng lên 100.000.000đồng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 28,8%/năm. Đến ngày 10/3/2022 bị đơn ông Nguyễn Quốc H tiếp tục ký tiếp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ngân hàng để sử dụng thẻ tín dụng UnionPay Family hạn mức 100.000.000đồng, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H vẫn không thực hiện nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất phù hợp theo Điều 23, Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó số tiền mà nguyên đơn yêu cầu ông H phải thanh toán tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 202.339.752đồng (trong đó: nợ gốc 115.964.683 đồng, lãi quá hạn 86.447.075đồng) phù hợp với quy định pháp luật, có cơ sở để chấp nhận.

[4.2] Đồng thời, ngày 10/3/2022 nguyên đơn và bà Nguyễn Thị Như N (vợ ông H) đã ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) thể hiện việc bà N được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng UnionPay Family hạn mức sử dụng ban đầu là 50.000.000đồng sau đó tăng lên 200.000.000đồng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 31,2%/năm. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không thực hiện nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất phù hợp theo Điều 23, Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó số tiền mà nguyên đơn yêu cầu bà N phải thanh toán tạm tính

đến ngày 09/4/2025 là 405.027.234đồng (trong đó: nợ gốc 231.682.178đồng, lãi quá hạn 173.345.056đồng) phù hợp với quy định pháp luật, có cơ sở để chấp nhận.

[4.3] Về lãi suất phát sinh: nguyên đơn yêu cầu các bị đơn phải tiếp tục trả lãi suất phát sinh trong quá trình trả nợ được tính tiếp theo từ ngày 10/4/2025 cho đến khi các bị đơn trả xong nợ. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận theo Điều 23, Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mà các bên đã ký kết; phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1.

- Bị đơn ông Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 202.339.752đồng (trong đó: nợ gốc 115.964.683đồng, lãi quá hạn 86.447.075đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Như N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 405.027.234đồng (trong đó: nợ gốc 231.682.178đồng, lãi quá hạn 173.345.056đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001261 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn ông Nguyễn Quốc H phải chịu 10.116.988đồng. Bà Nguyễn Thị Như N phải chịu 20.201.089đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q . Ninh Kiều;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Lê Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 67/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1. - Bị đơn ông Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 202.339.752đồng (trong đó: nợ gốc 115.964.683đồng, lãi quá hạn 86.447.075đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ. - Bị đơn bà Nguyễn Thị Như N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 405.027.234đồng (trong đó: nợ gốc 231.682.178đồng, lãi quá hạn 173.345.056đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger