|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/DS-PT Ngày: 24 - 3 - 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hai
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng và ông Đào Chí Keo
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 402/2024/DS-ST, ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2025/QĐXX-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 75/2025/QĐXX-PT ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Duy B, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số F, đường L, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
-
Bị đơn:
- 2.1. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang;
- 2.2. Bà Trần Thị Xuân T1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số F, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Hồ Hoàng P – Văn phòng Luật sư Hồ Hoàng P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A, đường T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Bị đơn, bà Trần Thị Xuân T1 kháng cáo; Viện Kiểm sát không kháng nghị. (Ông T; bà T1 và Luật sư P có mặt; ông B vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Trần Duy B trình bày:
Do quan hệ quen biết nên cho ông Phạm Ngọc T, bà Trần Thị Xuân T1 vay số tiền 158.000.000đ để làm kinh tế gia đình. Ông T, bà T1 không trả nợ nên ông B khởi kiện yêu cầu vợ chồng liên đới trách nhiệm số tiền vốn 158.000.000đ và lãi suất theo quy định từ ngày 01/04/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Bị đơn là ông Phạm Ngọc T, bà Trần Thị Xuân T1 cùng trình bày:
Số tiền 158.000.000 đồng theo biên nhận ngày 01/04/2022 là trách nhiệm của ông T. Bà T1 không đồng ý liên đới cùng ông T trả nợ theo yêu cầu của ông B.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 402/2024/DS-ST, ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Duy B đối với ông Phạm Ngọc T, bà Trần Thị Xuân T1:
Buộc ông Phạm Ngọc T và bà Trần Thị Xuân T1 trả cho ông Trần Duy B số tiền 205.210.400đ (hai trăm lẻ năm triệu, hai trăm mười ngàn, bốn trăm đồng). Trong đó, tiền vốn 158.000.000đ, tiền lãi 47.210.400đ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí dân sự, về áp dụng luật thi hành án và tuyên về phần quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025, bà Trần Thị Xuân T1 làm đơn kháng cáo, không chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cùng với của ông Phạm Ngọc T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Phạm Ngọc T vẫn giữ ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm, số tiền nợ ông Trần Duy B, ông chịu trách nhiệm cá nhân, yêu cầu trả dần và xin miễn trả tiền lãi.
Luật sư, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Xuân T1 trình bày: Biên nhận ngày 01/04/2022 bà T1 không ký; bà T1 có thu nhập ổn định (đính kèm bảng lương) và ông T, bà T1 đã ly thân từ năm 2019. Đề nghị Hội đồng xét xử không buộc trách nhiệm liên đới của bà T1 cùng với ông T trả số tiền cho ông Trần Duy B như án sơ thẩm tuyên.
Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo đúng quy định pháp luật; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật và tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 86, Điều 234, Điều 273 và Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, ông T thừa nhận khi ký biên nhận ngày 01/04/2022 cho ông B tại trại nuôi cá và tại phiên tòa sơ thẩm ông T thừa nhận có mang tiền về cùng với bà T1 nuôi con chung. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà T1, ông T cùng liên đới chịu tránh nhiệm trả cho ông B số tiền 158.000.000 đồng và tiền lãi là có căn cứ. Tuy nhiên, trong thời gian nghị án ông B tự nguyện không yêu cầu ông T, bà T1 phải trả lãi suất, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần này.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà T1. Sửa bản án sơ thẩm số 402/2024/DS-ST, ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự và của Viện Kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về hình thức, đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
-
Về nội dung:
- [3.1] Ông Trần Duy B khởi kiện yêu cầu ông Phạm Ngọc T, bà Trần Thị Xuân T1 phải trả số tiền vay 158.000.000đ và tiền lãi. Chứng cứ là Biên nhận ngày 01/4/2022.
- [3.2] Ông T thừa nhận ký tên biên nhận ngày 01/4/2022. Tuy nhiên, bà T1 khai rằng số tiền 158.000.000₫ là do ông T vay, bà không ký biên nhận; ông T cũng không đưa tiền cho bà để nuôi con chung; vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay và bà có thu nhập ổn định.
-
Xét yêu cầu kháng cáo của bà T1, Hội đồng xét xử thấy rằng: biên nhận ngày 01/4/2022 mặc dù không có chữ ký của bà T1 ở mục người nhận nợ, nhưng biên nhận ông T thừa nhận do ông viết, ghi địa chỉ người mượn tiền tại địa chỉ, số F, đường T, thành phố L là nơi cư trú của bà T1.
Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, ông T thừa nhận có mang tiền để cùng bà T1 nuôi con chung và tại phiên tòa phúc thẩm, ông T cũng thừa nhận, biên nhận ông ký với ông B tại nơi ông chăn nuôi cá thuộc địa phận thành phố L và trên thực tế ông T và bà T1 là vợ chồng nên phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự do một bên thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bà T1. Tuy nhiên, án sơ thẩm có sai sót về cách tính lãi và đính chính bản án; ông B là nguyên đơn, có đơn không yêu cầu ông T, bà T1 phải trả tiền lãi. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm số
402/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên về phần lãi suất và cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm.
[6] Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T, bà T1 phải chịu theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận, bà T1 phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị Xuân T1.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 402/2024/DS-ST, ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Tuyên xử:
Chấp nhận 01 phần đơn khởi kiện của ông Trần Duy B đối với ông Phạm Ngọc T và bà Trần Thị Xuân T1:
Buộc ông Phạm Ngọc T và bà Trần Thị Xuân T1 liên đới trả cho ông Trần Duy B số tiền 158.000.000đ (một trăm năm mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Ngọc T và bà Trần Thị Xuân T1 phải chịu 7.900.000 đồng.
Án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Xuân T1 phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002130 ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (đã nộp đủ);
Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Hai |
Bản án số 67/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 67/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
