TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/DS-PT.
Ngày 01 - 4 - 2025.
V/v “tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Thẩm phán:Ông Cao Văn Lạc.
Ông Đặng Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 tháng 3 và ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 405/2024/TLPT - DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 122/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 66/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Ngọc T, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường V, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Ngọc T là: Ông Võ Huỳnh Đăng T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (văn bản ủy quyền ngày 04/10/2023, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Quyết Q - Luật sư của Công ty L2 Chi nhánh V1 - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị đơn: Ông Võ Văn N, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Số E, N, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: Số D, đường V, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Võ Văn N là: Bà Cao Phương L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số C, đường P, khóm C, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị Thùy C - Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Minh P, sinh năm 1980 (vợ ông N, vắng mặt).
- Võ Nguyễn Minh A, sinh năm 2001 (con ông N, vắng mặt).
- Võ Nguyễn Minh T2, sinh năm 2007 (con ông N, vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số E, N, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: Số 45/5, khóm 1, phường 9, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Minh P, Minh A và Minh T2 cùng ủy quyền cho bị đơn ông Võ Văn N (văn bản ủy quyền ngày 27/7/2024, vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Bà Võ Thị R, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bà Võ Thị S, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ tạm trú: Số D, khóm A, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Võ Thị P1, sinh năm 1951 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số E, N, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2023 của nguyên đơn bà Võ Ngọc T và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Huỳnh Đăng T1 trình bày:
Bà Võ Ngọc T là chủ sử dụng thửa đất số 124, tờ bản đồ 24, diện tích 716,2m² (trong đó có 50m² đất ở và 666,2m² đất cây lâu năm) và 01 căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất, tọa lạc khóm A, phường I, thành phố V, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/4/2023. Do thường xuyên sinh sống ở nước ngoài nên bà T cho ông Võ Văn N ở nhờ trên thửa đất để trông coi nhà. Vào cuối năm 2023, bà T có thông báo yêu cầu ông N giao trả nhà, đất nhưng ông không đồng ý và xin ở thêm thời gian hai tháng bà T đồng ý.
Nhưng hết thời hạn hai tháng xin ở thêm ông N cũng không trả, làm xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bà T. Quá trình ở nhờ trên đất ông N không có tôn tạo, cải tạo làm tăng giá tri nhà, đất; hiện nay ông N có nhà, đất khác để ở. Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông N phải giao trả thửa đất số 124, tờ bản đồ 24, diện tích 716,2m², cùng căn nhà cấp 04 gắn liền trên đất có diện tích khoảng 50m², toạ lạc khóm A, phường I, thành phố V, bà T không cho ông N thời gian lưu cư.
- Tại đơn phản tố ngày 05/3/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Võ Văn N và ông N cũng là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh P, Võ Nguyễn Minh A và Võ Nguyễn Minh T2 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 124, tờ bản đồ 24 là của ông, bà nội ông N là cụ Võ Văn T3, cụ Võ Thị H, cũng là cha, mẹ của bà T, bà T là cô ruột của ông N. Sau khi cụ T3 chết cụ H giao cho chú 13 là ông Võ Kim H1 đại diện đứng tên quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận số 5069/GCN-RÐ, cấp ngày 06/11/1987, thửa số 367, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.850m² tọa lạc khóm A, phường I, thành phố V trong đó có thửa 124 là thửa được tách ra sau này.
Do ông Võ Kim H1 bị bệnh nặng, lúc này cụ H còn sống nên mới họp gia đình thống nhất giao phần đất này lại cho cô 8 là bà Võ Thị K đứng tên. Năm 2009 cụ H chết. Cụ T3 và cụ H trước khi chết không để lại di chúc, đến thời điểm này tài sản của cụ T3 và cụ H để lại là di sản thừa kế theo pháp luật của tất cả các người con (trong đó có cha của ông vì cha của ông đã chết).
Khoảng năm 2015, ông T1 cũng là cháu nội cùng hàng thừa kế với ông cùng bà T họp các cô gồm: Bà Võ Thị K, bà Võ Thị N1, bà Võ Thị P1, bà Võ Thị S, bà Võ Thị R và bà Võ Ngọc T thống nhất chia đất của cụ T3, cụ H để lại thành 05 (năm) phần, gồm các thửa: 188, 189, 190, 191, tờ bản đồ số 40 và thửa 124, tờ bản đồ 24. Các thửa đất trên đều do bà K đại diện đứng tên, sự việc này các cô ông biết. Sau đó, không biết lý do vì sao thửa đất 124 lại chuyển sang cho bà Võ Ngọc T đứng tên vào tháng 4/2023, việc bà T đứng tên những người cô của ông như bà N1, bà P1, bà S, bà R không hay biết, khi bà T kiện ông ra Tòa ông nói họ mới biết. Như vậy, thửa đất 124 có nguồn gốc của cụ T3 và cụ H chết để lại chưa chia thừa kế.
Đối với việc ông sinh sống trên thửa đất này là vào tháng 9/2018 ông T1 tìm ông và đề nghị ông về phần đất vườn của cụ T3 và cụ H (phần đất do bà K đứng tên để xây dựng nhà thờ) đến cuối năm 2018 xây dựng nhà thờ xong xin cấp số nhà D, khóm A, phường I, thành phố V do bà K làm chủ hộ.
Đến tháng 3/2019, ông T1 gọi điện thoại cho bà Võ Thị P1, địa chỉ số E, N, phường E, thành phố V kêu ông về ở nhà bác hai là ông Võ Văn T4 đã ở trước đây để giữ gìn đất, lúc đó ông T4 đã chết căn nhà bỏ trống từ lâu, địa chỉ căn nhà là số D, khóm A, phường I, thành phố V, bà P1 kêu ông về ở theo đề nghị của ông T1, lúc đó căn nhà của ông T4 đã mục nát, chỉ còn hai vách tường, mục không sử dụng được nên vợ chồng ông phải lo tiền để cất lại cho đến nay. Căn nhà này cách căn nhà thờ do bà K là chủ hộ khoảng 80m, tổng số tiền vật tư san lấp, xây dựng nhà, làm hầm tự hoại, sân bên hong nhà, đường đi, mái che, hiên, ao cá, trại chăn nuôi gà, vịt khoảng 450.000.000đ. Trên đất có các cây trồng để ăn trái như dừa, bưởi, chanh, sầu riêng, mít, dâu tằm ăn...do gia đình ông trồng. Tháng 6/2019 dịch covid bùn phát, ông thấy bà K ở một mình không ai chăm lo nên rước về nhà cùng ở gia đình ông đến khi hết dịch. Bà K biết gia đình ông ở trên đất đó từ lâu, bà vẫn đồng ý và chưa lần nào đuổi gia đình ông đi.
Gia đình ông về sống trên phần đất này từ năm 2019 đến nay, lúc bà T chưa đứng tên đất, bà T cho rằng cho ông ở nhờ và không có công tôn tạo, cải tạo làm tăng giá trị nhà đất là không đúng sự thật. Hiện tại gia đình ông không có chỗ ở nào khác, bà T yêu cầu ông trả lại nhà đất làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng và làm xáo trộn rất lớn đến gia đình ông. Vì vậy, buộc ông phải di dời để giao trả thửa đất cho bà T thì bà T phải trả lại giá trị tài sản, vật kiến trúc có trên đất, cây trồng và công sức tôn tạo giữ gìn đất bấy lâu nay, tổng giá trị khoảng 550.000.000đ. Tại căn nhà ngoài ông ra còn có vợ, con của ông đang sinh sống là bà Nguyễn Minh P, sinh năm 1980, Võ Nguyễn Minh A, sinh năm 2001, Võ Nguyễn Minh T2, sinh năm 2007, đây là nơi ở duy nhất của gia đình ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 122/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, 217, 229, 244, 273 và 278 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, 14, 15, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Về nội dung:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Ngọc T;
Công nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Võ Văn N về việc đồng ý giao trả quyền sử dụng đất thửa số 124, tờ bản đồ số 24, diện tích 716,2m² gắn liền căn nhà cấp 4 trên đất tọa lạc khóm A, phường I, thành phố V cho bà Võ Ngọc T.
Công nhận các cây trồng trên đất theo biên bản định giá ngày 29/5/2024 cho bà Võ Ngọc T;
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn N.
Buộc bà Võ Ngọc T có nghĩa vụ hoàn trả tiền vật tư sửa chữa nhà cho ông N số tiền 57.328.000đ (năm mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi tám nghìn đồng) và giá trị cây trồng 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Không chấp nhận một phần phản tố của ông N: Đối với tiền vật tư sửa chữa nhà (trong đó có cả tiền bơm cát) số tiền là 160.120.000đ (một trăm sáu mươi triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng); đối với việc hoàn tiền giá trị cây trồng với số tiền 16.215.000đ (mười sáu triệu, hai trăm mười lăm nghìn đồng).
Đình chỉ một phần tiền vật tư sửa chữa nhà ông N đã rút với số tiền 110.895.000đ (một trăm mười triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18/9/2024 bị đơn ông Võ Văn N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của ông N về việc yêu cầu nguyên đơn bà Võ Ngọc T trả lại cho bị đơn các khoản chi phí bơm cát, sửa chữa, nâng cấp cải tạo nhà bao gồm các khoản hóa đơn, chứng từ trong bảng kê ngày 09/8/2024 có số thứ tự 02 = 86.000.000đ (tiền bơm cát) và trong bảng kê ngày 19/8/2024 có số thứ tự 01, 02 = 74.120.000đ (tiền mua cát xây, đá ½, xi măng, dây dẻo để sửa nhà). Tổng cộng hai khoản trên là 160.120.000đ, yêu cầu nguyên đơn bà Võ Ngọc T bồi thường giá trị cây trồng cho bị đơn theo biên bản định giá tài sản ngày 29/5/2024 là 17.165.000đ, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại tiền án phí dân sự sơ thẩm của Nguyễn Minh P, Võ Nguyễn Minh A, Võ Nguyễn Minh T2 và yêu cầu Tòa án cho bị đơn thời gian lưu cư 04 tháng để bị đơn có đủ thời gian sắp xếp chỗ ở mới, ổn định cuộc sống.
Ngày 10/02/2025 bà Cao Phương L đại diện theo ủy quyền của ông N có đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Cao Phương L đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn N thay đổi yêu cầu kháng cáo, bà L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng gồm: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Võ Thị K và ông Võ Anh V vào tham gia tố tụng, bà T sống ở nước Mỹ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long theo thủ tục sơ thẩm và không có tiến hành hòa giải ở cơ sở. Giữ lại yêu cầu kháng cáo về án phí.
Luật sư Nguyễn Thị Thùy C bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn N đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông N hủy Bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Lý do, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là không đúng thẩm quyền, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chưa làm rõ nguồn gốc thửa đất tranh chấp và chưa làm rõ căn nhà trên đất là của ai. Bà T nhận chuyển nhượng đất có nhận chuyển nhượng căn nhà hay không.
Ông Võ Huỳnh Đăng T1 đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Ngọc T không đồng ý với kháng cáo của ông N. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư Nguyễn Quyết Q bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Ngọc T đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của những người tham gia tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; Các đương sự và các Luật sư có mặt thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn N.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 122/2024/DS-ST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về phần án phí theo hướng không buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Minh P, Võ Nguyễn Minh A, Võ Nguyễn Minh T2 chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông N không phải nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục: Đơn kháng cáo trong hạn của bị đơn ông Võ Văn N đề ngày 18/9/2024 đúng về hình thức, nội dung và còn trong thời hạn luật định, ông N thuộc đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên kháng cáo của ông N được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bà L đại diện cho ông N sửa đổi kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng gồm: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Võ Thị K và ông Võ Anh V vào tham gia tố tụng, bà T sống ở nước Mỹ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long theo thủ tục sơ thẩm và không có tiến hành hòa giải ở cơ sở. Giữ lại yêu cầu kháng cáo về án phí.
Nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ông N thừa nhận phần tranh chấp là của bà T, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến nay bà K và ông V không có khiếu nại để làm phát sinh tình tiết mới của vụ án. Bà T được cấp căn cước công dân vào năm 2022 ghi quốc tịch Việt Nam xem là công dân Việt Nam, tại thời điểm khởi kiện bà T có mặt ở Việt Nam thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo thủ tục sơ thẩm. Trong hồ sơ có thể hiện biên bản hòa giải cấp cơ sở tại bút lục 15, 16 nên đủ điều kiện để thụ lý vụ án tranh chấp liên quan đất đai. Mặc khác, bà L đại diện cho ông N sửa đổi, bổ sung kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu được quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, xét việc bà L đại diện cho ông N sửa đổi kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn N yêu cầu bà T trả lại các khoản chi phí bơm cát, sửa chữa, nâng cấp cải tạo nhà tổng cộng là 160.120.000đ (trong đó có 86.000.000đ tiền bơm cát và 74.120.000đ tiền mua cát xây, đá ½, xi măng, dây dẻo để sửa nhà) là không có căn cứ chấp nhận. Bởi vì, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định ông N về ở căn nhà số D có tiến hành sửa chữa. Theo lời trình bày của những người làm chứng bà Võ Thị P1, bà Võ Thị R, bà Võ Thị S (bút lục 179, 180, 181) ông N về ở căn nhà này từ khoảng năm 2021, ông N có sửa chữa, cải tạo lại nhà nhưng lấy một số vật tư cũ từ nhà khác qua để sửa chứ không hoàn toàn mua vật tư mới. Còn phía ông N thì cho rằng về ở căn nhà này khoảng năm 2019. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/9/2024 ông N xác định thời gian về sinh sống trên đất tại số nhà D vào năm 2021 là phù hợp với lời khai của những người làm chứng ngày 06/8/2024 gồm bà Võ Thị S và Võ Thị R. Như vậy, có đủ căn cứ xác định ông N sinh sống tại nhà, đất số 45/5 vào năm 2021. Tại hóa đơn bơm cát do ông N cung cấp đề ngày 16 và ngày 23/12/2019 số tiền 86.000.000₫ và tiền mua cát xây, đá ½, xi măng, dây dẻo để sửa nhà trên hóa đơn thể hiện ngày 15/3/2019 số tiền 30.337.000₫ và ngày 28/02/2019 số tiền 43.783.000đ cho thấy thời gian bơm cát và mua vật tư diễn ra trước khi ông N về sinh sống và trước thời gian ông N sửa chữa nhà tại thửa 124. Mặc khác, theo giấy nhận tiền đề ngày 16 và ngày 23/12/2019 (bút lục 155) thể hiện ông N trả 86.000.000đ tiền bơm cát cho vật liệu xây dựng B do ông Hồ Tấn Công N2, nhưng giấy biên nhận không thể hiện rõ bơm cát ở vị trí nào, cửa hàng vật liệu xây dựng ba L1 ở đâu. Các hóa đơn bán lẻ ngày 28/02/2019 và ngày 15/3/2019 với số tiền 74.120.000đ không thể hiện họ tên, địa chỉ của người bán hàng và giao hàng thi công ở vị trí nào. Nên Tòa không thể xác minh thụ thập chứng cứ để làm rõ được. Ngày 12/02/2025 Tòa án ra thông báo yêu cầu ông Võ Văn N và bà Cao Phương L là người đại diện theo ủy quyền của ông N cung cấp địa chỉ cụ thể cửa hàng B có nhận của ông Võ Văn N hai lần tiền bơm cát với số tiền 86.000.000đ; đồng thời yêu cầu cung cấp họ tên, địa chỉ của người bán hàng theo các hóa đơn bán lẻ ngày 28/02/2019 và ngày 15/3/2019 với số tiền 74.120.000đ để Tòa xác minh, thu thập chứng cứ làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của ông N khách quan, toàn diện. Nhưng quá thời hạn theo thông báo ông N và bà L không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa. Nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N về việc yêu cầu bà T trả lại các khoản chi phí bơm cát, sửa chữa, nâng cấp cải tạo nhà tổng số tiền 160.120.000đ.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn N yêu cầu bà T bồi thường giá trị cây trồng theo biên bản định giá của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 29/5/2024 là 17.165.000đ là không có căn cứ chấp nhận. Bởi vì: ông N về ở trên thửa đất số 124 năm 2021, trước đó đã có cho một số người cháu khác ở. Đối với phần cây trồng trên đất theo biên bản xem xét thẩm định, biên bản định giá tài sản ngày 29/5/2024, tất cả các cây trồng đều khoảng 04 năm tuổi trở lên, chỉ có 02 cây mít 02 năm tuổi và 01 cây vú sữa 01 năm tuổi, nhận thấy số tuổi của cây trồng trên đất đều lâu hơn thời gian ông N về sinh sống trên đất vào năm 2021. Cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông N buộc bà T trả giá trị 02 cây mít và 01 cây vú sữa do ông N trồng với số tiền 950.000₫ là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn N yêu cầu được lưu cư 04 tháng: Xét thấy ông N về ở nhà số D, khóm A, phường I, thành phố V không có đăng ký thường trú, vợ con ông chỉ tới lui thăm và mẹ vợ ông chỉ ở vài ngày để trị bệnh sau đó bà về nhà nên đây không phải là nơi thường xuyên sinh sống của gia đình ông. Theo như địa chỉ ông N cung cấp cho Tòa thể hiện ông có địa chỉ thường trú số E, N, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long nên xác định ông N vẫn còn nơi ở khác. Tuy nhiên, để đảm bảo cho ông N có thời gian di dời đồ đạc đến nơi ở khác trả nhà đất cho bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông N, cho ông N lưu cư trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
[5] Xét kháng cáo của ông N yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm xem xét tiền án phí dân sự sơ thẩm của Nguyễn Minh P, Võ Nguyễn Minh A, Võ Nguyễn Minh T2 là có căn cứ chấp nhận. Bởi vì, theo hồ sơ vụ án thể hiện bà Minh P, Minh A và Minh T2 không có yêu cầu độc lập, ông N cũng đã tự nguyện trả lại phần đất thửa số 124 cho bà Võ ngọc T. Đồng thời, tại Bản án sơ thẩm cũng chỉ tuyên buộc một mình ông N phải trả lại quyền sử dụng đất cho bà T. Do đó, theo quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận...”. Tòa cấp sơ thẩm buộc bà Minh P, Minh A và Minh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ là không phù hợp.
[6] Án sơ thẩm tuyên: Công nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Võ Văn N về việc đồng ý giao trả quyền sử dụng đất thửa số 124, tờ bản đồ số 24, diện tích 716,2m² gắn liền căn nhà cấp 4 trên đất tọa lạc khóm A, phường I, thành phố V cho bà Võ Ngọc T. Nhưng không tuyên rõ sơ đồ, vị trí, giáp giới, kích thước, hình thể của thửa đất sẽ khó khăn trong quá trình thi hành án. Nên sửa án sơ thẩm đối với phần này.
[7] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn N. Chấp nhận một phần đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N. Chấp nhận một phần đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Võ Văn N.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 122/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng: Điều 273, khoản 2 Điều 284 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về nội dung:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Ngọc T.
Công nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Võ Văn N về việc đồng ý có nghĩa vụ giao trả cho bà Võ Ngọc T quyền sử dụng đất thửa số 124, tờ bản đồ số 24, diện tích 716,2m² (mục đích sử dụng đất ở 50m², đất trồng cây lâu năm 666,2m²) gắn liền căn nhà cấp 4 trên đất tọa lạc khóm A, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Có sơ đồ, vị trí, giáp giới, kích thước, hình thể được thể hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa DK 717781 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho bà Võ Ngọc T ngày 06/4/2023 (Kèm theo bản án).
Công nhận các cây trồng trên đất theo biên bản định giá ngày 29/5/2024 cho bà Võ Ngọc T.
Cho ông Võ Văn N lưu cư trong thời hạn 02 (hai) tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn lưu cư ông N không di dời toàn bộ tài sản của ông đi nơi khác để trả nhà, đất tại thửa 124 cho bà T thì bà T có quyền yêu cầu cưỡng chế thi hành án.
1.2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn N.
Buộc bà Võ Ngọc T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Võ Văn N tiền vật tư sửa chữa nhà 57.328.000đ (Năm mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi tám nghìn đồng) và tiền giá trị cây trồng 950.000đ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).
1.3. Không chấp nhận một phần phản tố của ông N: Đối với yêu cầu bà T trả lại các khoản chi phí bơm cát, sửa chữa, nâng cấp cải tạo nhà tổng cộng là 160.120.000đ (Một trăm sáu mươi triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng). (Trong đó có 86.000.000đ tiền bơm cát và 74.120.000đ tiền mua cát xây, đá ½, xi măng, dây dẻo để sửa nhà) và đối với yêu cầu hoàn trả giá trị cây trồng số tiền 16.215.000đ (Mười sáu triệu, hai trăm mười lăm nghìn đồng).
1.4. Đình chỉ một phần tiền vật tư sửa chữa nhà ông N đã rút với số tiền 110.895.000đ (Một trăm mười triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Võ Văn N phải nộp chi phí định giá tài sản và thẩm định tại chỗ số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để hoàn trả lại cho bà Võ Ngọc T.
4. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn và bị đơn do thuộc đối tượng người người cao tuổi.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông N không phải nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
10
Bản án số 67/2025/DS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 67/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
