|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 8/7/2024 |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Vượng và ông Trần Đức Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 8/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/HSST ngày 10/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024, đối với bị cáo:
* Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996, tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị T1; có vợ là Đinh Thị T2 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; Nhân thân: Ngày 26/12/2012, Nguyễn Ngọc T bị Công an xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên xử phạt tiền về hành vi “Đánh nhau”; Ngày 25/2/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 6 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản; Ngày 8/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản; Ngày 03/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xử phạt 01 năm 6 tháng tù giam về Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tiền án: Ngày 18/8/2021 Nguyễn Ngọc T bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 theo lệnh trích xuất có mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên vắng mặt.
- - Anh Đặng Đình Đ, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên vắng mặt.
- - Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/03/2024, tại đường Đ đoạn rẽ vào đường C thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T đang mặc gồm có 01 túi nilon viền đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1); 01 chùm chìa khóa; 01 thẻ ngân hàng; 01 thẻ CCCD đều mang tên Nguyễn Ngọc T; 01 bao thuốc lá Thăng Long đã qua sử dụng bên trong còn 12 điều thuốc lá.
Tại bản kết luận giám định số 298/KL-KTHS(MT) ngày 02/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Các chất tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT1 có tổng khối lượng là 0,385 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra: Nguyễn Ngọc T khai nhận số ma túy thu giữ là của T, bị cáo cho biết số ma túy thu giữ vào ngày 28/03/2024, T được một người bạn tên Q không rõ địa chỉ cho T để sử dụng. Đến 11 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, T giấu số ma túy trong túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ đến đường ĐH 382 đoạn rẽ vào đường C thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng đã bị cơ quan CSĐT Công an tỉnh H bắt quả tang.
Đối với người đàn ông tên Q cho T ma túy để sử dụng, do T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 298/KL-KTHS(MT) ghi mẫu vật gửi giám định; 01 chùm chìa khóa; 01 thẻ ngân hàng, 01 thẻ CCCD đều mang tên Nguyễn Ngọc T; 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong còn 12 điếu thuốc hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh H.
Cáo trạng số 64/CT-VKS-P1 ngày 7/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 2 năm đến 2 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/03/2024; Về xử lý vật chứng và án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm dược trở về đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 298/KL- KTHS(MT) ngày 02/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/03/2024, tại đường Đ đoạn rẽ vào đường C thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y; Nguyễn Ngọc T đang tàng trữ trái phép 0,385gam ma túy nhằm mục đích để sử dụng đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội cố ý trong đó có 01 bản án chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo;
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, có 01 lần chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội khác.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chùm chìa khóa, 01 thẻ ngân hàng, 01 thẻ CCCD đều mang tên Nguyễn Ngọc T là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong còn 12 điều thuốc lá thu giữ của bị cáo là vật chứng trong vụ án không còn giá trá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/03/2024.
[3]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 298/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an tỉnh H, có 03 chữ ký và 03 con dấu tròn; 01 bao thuốc lá Thăng Long trong còn 12 điếu thuốc lá.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: 01 chùm chìa khóa; 01 thẻ ngân hàng; 01 CCCD mang tên Nguyễn Ngọc T.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tuấn |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
