Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày 30 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trường;
  2. Bà Hoàng Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST, ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 15/52024, đối với bị cáo:

Trần Q, sinh ngày 01/01/1990, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn tít; Con ông (không xác định) và bà Trần Thị L (đã chết); Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Tống Phước L1, sinh năm: 1989; địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng: Bà Trương Thị L2, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Sáng ngày 14/02/2024, Trần Q đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị rồi đi bộ quanh khu vực Công viên L tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Q đến Kiệt số 9- L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 74H3-6615 (tài sản của anh Tống Phước L1, trú tại Khu phố A, Phường A, thành phố Đ) đang dựng ở phía trước Kiệt trên xe có cắm chìa khóa, không có người trông giữ nên Q lén lút tiến lại vị trí của chiếc xe mô tô, ngồi lên xe, mở khóa rồi nhanh chóng điều khiển xe đến phía trước khách sạn M (Đường N thuộc Khu phố I, Phường A, thành phố Đ) rồi dừng lại để tìm nơi tiêu thụ thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ, phát hiện.
  2. Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 74H3-6615 (kèm theo chìa khóa xe).
  3. Kết luận định giá: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 341/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, xác định: Trị giá xe mô tô biển kiểm soát 74H3-6615, tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 4.000.000 đồng.
  4. Truy tố: Cáo trạng số 70/CT-VKSĐH ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, truy tố bị cáo Trần Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  5. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Tuyên bố bị cáo Trần Q, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam.
    • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Hoạt động tố tụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên nhưng cho rằng: “Biên bản hỏi cung” được Điều tra viên viết sẵn trên giấy A4 (Viết tay, mực màu xanh) rồi đưa cho bị cáo tự đọc, bị cáo thấy nội dung Điều tra viên ghi đúng nên đã tự nguyện ký vào biên bản.

Hội đồng xét xử, thấy: Toàn bộ “Biên bản hỏi cung bị can” có trong hồ sơ vụ án (Bút lục số 69 đến 72), được đánh máy, không phải viết tay. Sau khi được tiếp cận, bị cáo thừa nhận chữ ký và chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc lại và công nhận là đúng với những gì tôi đã khai; Trần Q” là do bị cáo tự nguyện viết và tự nguyện ký vào Biên bản cung hỏi cung.

Như vậy, lời khai nêu trên của bị cáo là không có căn cứ nên có đủ cơ sở để khẳng định rằng: Các hoạt động tố tụng về điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về trách nhiệm hình sự:

  1. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Q đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số 70/CT-VKSĐH ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để khẳng định:

    Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/02/2024, tại Kiệt S- L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, bị cáo Trần Q lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Q đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74H3-6615 thuộc quyền sở hữu của anh Tống Phước L1. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.000.000 đồng nên hành vi nêu trên của bị cáo Trần Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự an ninh ở địa phương nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.

  2. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy:
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình (mức độ thành khẩn không cao) nên phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

    Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bị cáo có nhân thân tốt, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa, bị cáo chưa thực sự thành khẩn khai báo (Khai báo quanh co nhằm che dấu mục đích thực hiện hành vi phạm tội của mình) nên việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết và có căn cứ.

Thời hạn bị cáo bị bắt giam được tính vào thời gian chấp hành án; cần tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

  1. Về vật chứng vụ án: Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biển kiểm soát 74H3-6615 và chìa khoá xe cho anh L1 là có căn cứ.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Anh Tống Phước L1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Trần Q: 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam là ngày 15/02/2024.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

    Buộc bị cáo Trần Q, phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng chẳn) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo bản án:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Q phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger