TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI | Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 67/2024/HSST Ngày: 26/4/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên |
| Hội thẩm nhân dân | : Ông Nguyễn Văn Hành |
| Ông Hoàng Văn Long | |
| Thư ký ghi biên bản phiên toà : | Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Toà án. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: | Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên. |
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 09/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kim Mạnh T sinh năm: 1995
Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 9, xã N, huyện T, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; T: không; Con ông: Kim Văn K, Con bà: Nguyễn Thị T1. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai. D chỉ bản số 26 ngày 12/01/2024 Công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024 hiện đang bị tạm giam ở trại giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 10 giờ ngày 07/01/2024, khi Kim Mạnh T đang ở nhà tại Đ xã N, huyện T, Hà Nội thì nhận được cuộc gọi qua ứng dụng zalo của một người đàn ông tên Đ (T không biết rõ họ tên, địa chỉ đầy đủ mà chỉ biết nhà Đ ở khu vực D, T, Hà Nội) hỏi mua 05 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy “ke”. T đồng ý bán và báo giá số ma túy trên là 4.000.000 đồng và hẹn Đ 30 phút sau sẽ giao ma túy tại cuối cụm C thuộc xã N, huyện T, Hà Nội. Sau đó, T đi bộ từ nhà đến khu vực đường gom gần ngã ba N, xã N, T, Hà Nội, gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ni lông bên trong chứa 05 viên ma túy “kẹo” và 01 túi ni lông bên trong chứa 01 chỉ ma túy “ke” với giá 3.000.000 đồng. T gói số ma túy vừa mua được vào mảnh giấy trắng rồi cầm ở tay phải và đi bộ đến cuối cụm công nghiệp Ngọc H để giao ma túy cho Đ (T sẽ được hưởng lợi 1.000.000 đồng).
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, tổ công tác Công an xã L - Công an huyện T làm nhiệm vụ tại cụm C, xã N, T, Hà Nội, phát hiện Kim Mạnh Tuấn đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Phát hiện lực lượng công an kiểm tra, T liền thả từ tay phải xuống đất gần chỗ T đang đứng 01 gói giấy màu trắng thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ và yêu cầu T mở gói giấy, kiểm tra thấy bên trong gói giấy có 01 túi ni lông chứa 05 viên nén màu vàng và 01 túi ni lông chứa hạt tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận các viên nén màu vàng và tinh thể màu trắng trong các túi ni lông bị thu giữ là ma túy tổng hợp loại “kẹo”, “ke” T vừa mua để bán lại kiếm lời nên Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở giải quyết.
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của T 01 điện thoại Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng. Qua khai thác dữ liệu thông tin trong máy điện thoại di động, chưa phát hiện thông tin gì liên quan đến người đàn ông tên Đ.
Hồi 20 giờ ngày 07/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Kim Mạnh T tại Đội 9 xã N, T, Hà Nội, kết quả: không phát hiện thu giữ được gì.
Ngày 07/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Kim Mạnh T.
Tại bản kết luận giám định số 579/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:
“- 05 viên nén màu vàng bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 2,039 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,318 gam.”
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,406 gam MDMA trong tổng số 2,039 gam MDMA và 0,093 gam Ketamine trong tổng số 1,318 gam Ketamine để làm mẫu giám định, còn lại 1,633 gam MDMA và 1,225 gam Ketamine hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của T xác định: T âm tính với ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Kim Mạnh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T, do T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông tên Đ mua ma túy của T, T khai không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của Đ mà chỉ biết Đ ở D, T, Hà Nội. Sau khi liên lạc và thỏa thuận mua bán ma túy với Đ qua ứng dụng zalo, T đã xóa dữ liệu thông tin của Đ nên ngày 01/04/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 69 đối với phần tài liệu liên quan đến hành vi của đối tượng tên Đ để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng là tài sản của T, được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần phải tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng: số 63/CT-VKSTT ngày 08/4/2024,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Kim Mạnh Tuấn về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 - bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều Kim Mạnh T và thừa nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn ăn năn hối cải, hứa sẽ sửa chữa và đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Tiến H1 về tội " Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 - Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
Đề nghị Tòa xử phạt Kim Mạnh T từ 31 (ba mươi một) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam ngày 07/01/2024.
Đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon là ma tuý lo ại Ketamine là 1,225 gam và 1,633 gam MDMA sau khi đã giám định, (thu giữ của Kim Mạnh T )
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen có gắn sim số: 0379565295 của bị cáo T.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hồi 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2024 tại cụm C thuộc xã N, huyện T, Hà Nội, khi Kim Mạnh T đang cất giấu 01 túi nilông bên trong có chứa 2,039 gam ma túy loại MDMA và 01 túi ni lông bên trong chứa 1,318 gam ma túy loại Ketamine để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã L – Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật. Đối chiếu pháp luật Kim Mạnh T đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" tại khoản 1 Điều 251 -Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
[2] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, không có tiền án, tiền sự, là quân nhân xuất ngũ được quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 - bộ luật hình sự năm 2015
[4] Tòa xét thấy bị cáo Kim Mạnh T nhận thức được tác hại của ma tuý, nhưng coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đã xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội là nguyên nhân lan truyền căn bệnh thế kỷ tiếp tay cho loại tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng và phát triển- là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và đang bị tạm giữ tạm giam, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0379565295, bị cáo dùng trong việc mua bán ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì bên trong 1,633 gam MDMA đã qua giám định và 1,225 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định). Xét thấy số MDMA và Ketamine đã thu giữ là chất độc hại cấm lưu hành không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Kim Mạnh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Kim Mạnh T 31 (ba mươi một) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024.
Về vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi nilon là ma tuý MDMA có khối lượng 1,633 gam (Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ 2,039 gam MDMA . Sau khi giám định 0,406 gam đã trả lại cho Công an huyện T 1,633 gam MDMA, thu giữ của bị cáo Kim Mạnh T), (tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/04/2024).
Tịch thu tiêu huỷ 01 túi nilon là ma tuý có khối lượng 1,225 gam Ketamine (Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ 1,318 gam Ketamine. Sau khi giám định 0,093 gam đã trả lại cho Công an huyện T 1,225 gam Ketamine thu giữ của bị cáo Kim Mạnh T), (tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/04/2024).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại Iphone 7 màu đen có gắn sim số 0379565295 của bị cáo Kim Mạnh T (tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/04/2024).
Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Điều 20, 22, 26 Nghị Quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán Chủ toạ phiên toà NGUYỄN THỊ KIM LIÊN |
Bản án số 67/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, TP. HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 67/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
